Nghị quyết số 57-NQ/TW: Động lực then chốt của tăng trưởng và năng lực chống chịu quốc gia
Thực hiện thắng lợi Nghị quyết 57-NQ/TW không chỉ là yêu cầu phát triển mà còn là mệnh lệnh của thời đại. Nhấn mạnh quan điểm này tại phiên thảo luận ở Tổ 10, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Trần Văn Khải - ĐBQH tỉnh Ninh Bình, nêu rõ: Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chính là “chìa khóa vàng” để Việt Nam bứt phá, đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, xây dựng nền kinh tế tự chủ, tự cường và thích ứng hiệu quả với mọi biến động toàn cầu. Nghị quyết 57-NQ/TW phải trở thành động lực then chốt của tăng trưởng và năng lực chống chịu quốc gia.
Sáng nay, 10/4, Quốc hội tiếp tục làm việc tại Tổ, thảo luận về: Đánh giá bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH và NSNN năm 2025; tình hình thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH và NSNN những tháng đầu năm 2026; Kế hoạch phát triển KT-XH 5 năm 2026-2030; Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030...
Chuyển mạnh sang tăng trưởng dựa trên tri thức, công nghệ và năng suất
Đóng góp ý kiến với Kế hoạch phát triển KT-XH giai đoạn 2026 - 2030 tại Tổ 10 (gồm Đoàn ĐBQH các tỉnh Ninh Bình và Sơn La), Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Trần Văn Khải - ĐBQH tỉnh Ninh Bình nêu rõ, tại phiên khai mạc Đại hội XIV của Đảng ta, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu “nhìn thẳng vào sự thật”, đổi mới tư duy, hoàn thiện thể chế và hành động đột phá cho chặng đường phát triển mới. Trung ương giao nhiệm vụ thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026 - 2030 gắn với mục tiêu tăng trưởng “hai con số” đặt ra yêu cầu “vừa tăng tốc, vừa củng cố nền tảng ổn định kinh tế vĩ mô”.

Phân tích kết quả tình hình năm 2025, đại biểu Trần Văn Khải nhận thấy, năm 2025 có dư địa nhưng năng suất vẫn là “nút thắt”. Chúng ta đạt mức tăng trưởng GDP 8,02%, thuộc nhóm cao của khu vực và thế giới, quy mô nền kinh tế đạt 514 tỷ USD, lên vị trí thứ 32 thế giới, thu nhập bình quân đầu người đạt 5.026 USD, trong khi đó kinh tế số mới đạt 14,02% GDP, thấp hơn mục tiêu 20% của giai đoạn trước.
Trong giai đoạn 2026 - 2030, việc chúng ta đặt mục tiêu tăng trưởng bình quân trên 10%/năm, thu nhập bình quân đầu người khoảng 8.500 USD, kinh tế số chiếm 30% GDP, đang đòi hỏi phải chuyển mạnh sang tăng trưởng dựa trên tri thức, công nghệ và năng suất, đại biểu Trần Văn Khải nhấn mạnh.

Bên ngoài, thương mại và chuỗi cung ứng chịu tác động của xung đột địa chính trị, gia tăng bảo hộ và rào cản kỹ thuật; biến động năng lượng làm tăng chi phí, gây sức ép lên lạm phát và kỳ vọng thị trường.
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 24/12/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia phải trở thành động lực then chốt của tăng trưởng và năng lực chống chịu quốc gia.
Báo cáo của Chính phủ đã nêu nhiều hạn chế, như: kinh tế số chưa đạt mục tiêu; năng suất lao động tăng chậm; chậm ban hành văn bản hướng dẫn và khó khăn đưa chính sách đến doanh nghiệp, người dân...
Tuy nhiên, để Nghị quyết 57-NQ/TW thật sự trở thành “đột phá quan trọng hàng đầu” và “động lực chính” của mô hình tăng trưởng mới, theo đại biểu Trần Văn Khải, vẫn còn “4 thách thức lớn” chưa được chỉ rõ hoặc chưa được lượng hóa.
Một là, năng lực hấp thụ đổi mới của doanh nghiệp và chính quyền cơ sở còn thấp: thiếu nhân lực dữ liệu - công nghệ, thiếu tiêu chuẩn, thiếu quản trị đổi mới; khu vực công còn yếu “đặt hàng công nghệ” để kéo thị trường. Nếu “năng lực hấp thụ” thấp, ưu đãi của Nghị quyết 57-NQ/TW sẽ khó chuyển thành năng suất.
Hai là, dữ liệu chưa được coi là tư liệu sản xuất có cơ chế vận hành. Nghị quyết 57-NQ/TW yêu cầu kết nối cơ sở dữ liệu, khai thác tài nguyên số và hình thành sàn giao dịch dữ liệu; nhưng báo cáo chưa cụ thể hóa chuẩn dữ liệu bắt buộc, cơ chế chia sẻ/định giá dữ liệu công và yêu cầu tối thiểu về an ninh dữ liệu. Trí tuệ nhân tạo (AI) và kinh tế số vì thế thiếu “nhiên liệu”, đại biểu Trần Văn Khải thẳng thắn.
Ba là, rủi ro địa chính trị công nghệ trong bối cảnh phân mảnh thương mại và gia tăng kiểm soát công nghệ. Phụ thuộc công nghệ lõi và phần cứng tính toán bên ngoài làm tăng nguy cơ đứt gãy, đội chi phí, giảm sức chống chịu, nhưng nội dung này chưa được chuyển thành yêu cầu chính sách cụ thể.
Bốn là, thiếu kỷ luật thực thi bằng KPI, mốc thời gian và chế tài. Ai chịu trách nhiệm khi chậm tiêu chuẩn, chậm liên thông dữ liệu, phân mảnh nền tảng số, hoặc dàn trải chi cho khoa học công nghệ? Nêu vấn đề này, đại biểu Trần Văn Khải nhận định: Không có “kỷ luật kết quả”, mục tiêu R&D 2% GDP và ngân sách nhà nước tối thiểu 3% tổng chi sẽ khó trở thành hiện thực.
Tạo kỷ luật thực thi bằng quản trị theo kết quả
Trên cơ sở những phân tích nêu trên, đại biểu Trần Văn Khải cho rằng, giải pháp là phải bám sát Nghị quyết số 57-NQ/TW và “liên thông Nghị quyết” theo đúng tinh thần: Nghị quyết 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; Nghị quyết số 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo và Nghị quyết 72-NQ/TW về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân; Nghị quyết số 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Nghị quyết 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước.

Cụ thể, trước hết, theo đại biểu, phải tạo kỷ luật thực thi bằng quản trị theo kết quả. Xây dựng bộ KPI quốc gia về Nghị quyết 57-NQ/TW (TFP, kinh tế số, số hóa dịch vụ công, doanh nghiệp đổi mới…), giao rõ cơ quan chịu trách nhiệm, mốc thời gian và cơ chế thưởng - phạt. Gắn KPI với phân bổ ngân sách, đánh giá cán bộ và hàng năm báo cáo chuyên đề trước Quốc hội để có thể “đo được”, “kiểm được”.
Thứ hai, nâng năng lực hấp thụ đổi mới của doanh nghiệp theo nguyên tắc “3 đúng”: Đúng đối tượng (doanh nghiệp có tiềm năng nâng cấp) - Đúng công cụ (khoán chi chuyển đổi số; ưu đãi thuế cho R&D; quỹ đồng đầu tư mạo hiểm; tư vấn tiêu chuẩn) - Đúng thời điểm (tập trung trong 2 năm 2026 và 2027). Mở rộng mua sắm công đổi mới sáng tạo và cơ chế đặt hàng nhiệm vụ khoa học theo vấn đề, tạo “thị trường đầu tiên” cho sản phẩm trong nước.
Thứ ba, coi dữ liệu và năng lực tính toán là hạ tầng sản xuất. Ban hành chuẩn dữ liệu bắt buộc, cơ chế chia sẻ/định giá dữ liệu công và yêu cầu tối thiểu về an ninh dữ liệu; đặt điều kiện “liên thông dữ liệu” như tiêu chí thẩm định dự án số. Ưu tiên đầu tư trung tâm dữ liệu xanh, tính toán quốc gia; gắn với Nghị quyết 70-NQ/TW để bảo đảm điện, giảm rủi ro chi phí năng lượng khi số hóa tăng tốc.
Thứ tư, chủ động trước rủi ro địa chính trị công nghệ. Chọn danh mục công nghệ chiến lược (AI, bán dẫn, 5G/6G...) kèm sandbox có kiểm soát và cơ chế miễn trừ trách nhiệm theo Nghị quyết 57-NQ/TW; đa dạng hóa đối tác, tham gia chuẩn mực quốc tế theo Nghị quyết 59-NQ/TW; phát huy vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước theo Nghị quyết 79-NQ/TW ở các dự án hạ tầng số, năng lượng. Song song với đó, cần triển khai Nghị quyết 71-NQ/TW và Nghị quyết 72-NQ/TW để nâng chất lượng nhân lực, “sức bền” xã hội, tạo nền cho tăng trưởng hai con số bền vững.
Thực hiện thắng lợi Nghị quyết 57-NQ/TW không chỉ là yêu cầu phát triển mà còn là mệnh lệnh của thời đại. Khẳng định quan điểm này, đại biểu Trần Văn Khải nêu rõ: Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chính là “chìa khóa vàng” để Việt Nam bứt phá, đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, xây dựng nền kinh tế tự chủ, tự cường và thích ứng hiệu quả với mọi biến động toàn cầu.
Với quyết tâm chính trị cao, thể chế đột phá, nguồn lực được khơi thông và sự đồng hành của toàn xã hội, đại biểu Trần Văn Khải nhấn mạnh, chúng ta hoàn toàn có cơ sở để tin tưởng rằng, Việt Nam sẽ bước vào kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên của tri thức, công nghệ và thịnh vượng bền vững.
Kiến nghị sửa đổi, bổ sung dự thảo Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội giai đoạn 2026 - 2030
Từ thực tế, đại biểu Trần Văn Khải kiến nghị chỉnh lý dự thảo Nghị quyết về kế hoạch phát triển KT- XH giai đoạn 2026 - 2030 theo hướng: “Mục tiêu rõ, nguồn lực đủ, cơ chế mở, trách nhiệm đến cùng”, để Nghị quyết 57-NQ/TW trở thành động lực trung tâm.
| Điều, khoản trong dự thảo | Nội dung còn bất cập | Phân tích nội dung bất cập | Đề xuất nội dung cụ thể sửa đổi, bổ sung | Kỳ vọng hiệu quả sau sửa đổi |
| Phần “Chỉ tiêu chủ yếu” | Kinh tế số 30% GDP chưa kèm chuẩn đo; thiếu chỉ tiêu dữ liệu/an ninh dữ liệu | Không chuẩn đo, dễ hình thức; AI thiếu dữ liệu tốt | Bổ sung: phương pháp đo kinh tế số theo cơ quan thống kê; chỉ tiêu liên thông cơ sở dữ liệu quốc gia -ngành; chỉ tiêu an ninh dữ liệu và mức sử dụng dịch vụ công trực tuyến thực chất. | Đo lường minh bạch; kinh tế số tăng thực chất |
| Nhóm giải pháp “Thể chế” | Cải cách chung, chưa gắn Nghị quyết 66-NQ/TW và cơ chế “luật đi trước” | Chồng chéo, độ trễ văn bản dưới luật làm nghẽn đổi mới | Bổ sung khoản: rà soát theo “gói luật” cho kinh tế số; thời hạn bắt buộc ban hành văn bản dưới luật; tăng hậu kiểm, đánh giá tác động. | Giảm chi phí tuân thủ; tăng dự báo |
| Nhóm giải pháp “Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số” | Thiếu cam kết nguồn lực và cơ chế quỹ; thiếu mua sắm công đổi mới | Dàn trải, khó tạo sản phẩm chiến lược; R&D khó đạt 2% GDP | Bổ sung: lộ trình R&D 2% GDP và NSNN tối thiểu 3% tổng chi; khoán chi theo đầu ra; mua sắm công đổi mới; sandbox và miễn trừ trách nhiệm có kiểm soát. | Tăng TFP; hình thành công nghệ/sản phẩm chiến lược; doanh nghiệp mạnh hơn |
| Nhóm giải pháp “Doanh nghiệp” | Chưa có chương trình nâng “năng lực hấp thụ đổi mới” cho SME theo Nghị quyết 68-NQ/TW | SME khó tiếp cận công nghệ, tiêu chuẩn, vốn dài hạn | Bổ sung chương trình “SME số”: khoán chi chuyển đổi số; tư vấn chuẩn hóa; ưu đãi thuế R&D; kết nối viện -trường - doanh nghiệp; quỹ đồng đầu tư mạo hiểm. | Tăng tỷ lệ doanh nghiệp đổi mới; tăng cạnh tranh |
| Nhóm giải pháp “Hạ tầng & tổ chức thực hiện” | Hạ tầng số chưa gắn Nghị quyết 70-NQ/TW; chưa có cơ chế giám sát Nghị quyết 57-NQ/TW | Thiếu điện/chi phí cao làm chậm chuyển đổi số; thiếu kỷ luật kết quả | Bổ sung: ưu tiên điện, lưới cho trung tâm dữ liệu/khu công nghệ cao; tiêu chí “data center xanh”; báo cáo chuyên đề Nghị quyết 57-NQ/TW hàng năm trước Quốc hội; công khai KPI bộ/ngành/địa phương. | Bảo đảm năng lượng; tăng trách nhiệm giải trình; lan tỏa kết quả |

