Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng đặc biệt khó khăn

08/08/2012 08:43

Tham luận của HĐND tỉnh Nghệ An do TRƯỞNG BAN DÂN TỘC HĐND TỈNH MOONG VĂN HỢI trình bày tại Hội nghị Thường trực HĐND các tỉnh Bắc Trung bộ lần thứ 3

Nghệ An là một tỉnh đất rộng người đông, có diện tích tự nhiên gần 16.500km2, trong đó diện tích miền núi 13.700km2 chiếm 83%, dân số cả tỉnh gần 3 triệu người, trong đó dân số miền núi gần 1,2 triệu người chiếm 41%. Riêng đồng bào các dân tộc thiểu số có 442.800 người chiếm 15,2% dân số cả tỉnh và chiếm 36% dân số miền núi, gồm 5 dân tộc anh em: Thái, Thổ, Khơ Mú, Mông, Ơ Đu. Toàn tỉnh có 11/20 huyện, thị xã miền núi, trong đó có 3 huyện thuộc huyện nghèo nhất của cả nước, có 89 xã và 180 thôn, bản đặc biệt khó khăn. Có 27 xã tiếp giáp với nước bạn Lào, với 419km đường biên; tỷ lệ hộ đói nghèo cao, đời sống đồng bào các dân tộc, miền núi gặp nhiều khó khăn.

Thực tiễn hoạt động của HĐND các cấp của tỉnh Nghệ An trong những năm qua cho thấy vị thế, vai trò của HĐND ngày càng được nâng cao trong đời sống chính trị, xã hội của tỉnh. Thời gian qua, HĐND đã bám sát nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật để hoạt động và quyết định nhiều chủ trương biện pháp quan trọng ở địa phương. Đồng thời,  HĐND đã tổ chức giám sát các hoạt động của các cơ quan hành chính, tư pháp cùng cấp trong việc thực thi pháp luật,  thực hiện các nghị quyết của HĐND.

Thực tế hoạt động giám sát của HĐND (giám sát giữa hai kỳ họp và giám sát tại kỳ họp) trong thời gian qua đã có nhiều chuyển biến tích cực, đem lại hiệu quả thiết thực, góp phần quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, nhất là vùng đặc biệt khó khăn. Cụ thể, trong những nhiệm kỳ qua Thường trực HĐND đã phối hợp với các Ban của HĐND, Hội đồng dân tộc của Quốc hội tiến hành giám sát việc thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước đối với miền núi, dân tộc và vùng đặc biệt khó khăn. Đặc biệt từ đầu nhiệm kỳ đến nay, Ban dân tộc HĐND phối hợp với Thường trực HĐND, các Ban HĐND tiến hành 4 cuộc giám sát đối với việc thực hiện Chương trình 30a của Chính phủ, 02 cuộc giám sát về việc thực hiện Đề án “Bảo tồn và phát triển bền vững tộc người Đan Lai” và Dự án “Hỗ trợ, phát triển dân tộc Ơ Đu” tại tỉnh Nghệ An, đồng thời tiến hành 02 đợt khảo sát tình hình di cư nội, ngoại biên ở một số huyện tiếp giáp với nước bạn Lào và cuộc sống đồng bào các dân tộc thiểu số ở tại các khu tái định cư của các công trình thủy điện trên địa bàn tỉnh Nghệ An.

Qua giám sát cho thấy, việc tổ chức triển khai của các cơ quan quản lý nhà nước (UBND các cấp) được thực hiện tốt, đem lại hiệu quả kinh cao. Kết quả đó đã tác động rất tích cực và góp phần làm chuyển biến, thay đổi cơ cấu kinh tế, xã hội vùng miền núi, dân tộc, vùng đặc biệt khó khăn một cách rõ rệt. Do vậy, hầu hết các huyện miền núi, vùng cao, vùng đồng bào các dân tộc đã giảm dần tình trạng phá rừng, đốt nương làm rẫy một cách hạn chế. Bước đầu đã có tiến bộ trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hoá và trình độ dân trí, tư duy kinh tế của người miền núi, dân tộc từng bước được nâng lên rõ nét. Nhiều mô hình kinh tế vườn nhà, vườn đồi và vườn rừng, chăn nuôi gia súc, gia cầm, kết hợp VAC gắn với khoanh nuôi bảo vệ trồng cây gây rừng, làm kinh tế nông - lâm kết hợp rất đa dạng phong phú, có hiệu quả kinh tế cao. Đời sống đồng bào các dân tộc, miền núi từng bước được cải thiện và nâng cao, tỷ lệ đói nghèo hàng năm giảm dần từ 2 đến 3%, đặc biệt như huyện Quế Phong, huyện Tương Dương, huyện Kỳ Sơn tỷ lệ đói nghèo từ 60% đến 70% năm 2006 - 2008, nay tỷ lệ đói nghèo giảm xuống còn 54 đến 56%, nhờ đó đã góp phần giảm tỷ lệ đói nghèo miền núi xuống còn 43%; tỷ lệ đói nghèo giảm dần, cơ sở hạ tầng được đầu tư xây dựng, nhiều lĩnh vực đã thay đổi cơ bản. Các mặt văn hóa, y tế, giáo dục, an ninh quốc phòng ổn định và phát triển. Bộ mặt nông thôn miền núi có nhiều đổi thay và khởi sắc, truyền thống đại đoàn kết các dân tộc ngày càng được củng cố và phát triển. Thường trực HĐND tỉnh đã phối hợp với Tổ chức CARE Quốc tế tại Việt Nam thực hiện dự án “Tăng cường tiếng nói và sự tham gia của người dân tộc thiểu số trong xóa đói giảm nghèo tại 4 xã thuộc 2 huyện Quế phong và Nghĩa Đàn; qua gần 2 năm thực hiện, các mô hình sinh kế đã tạo được chuyển biến rõ trong nhận thức và cách thức về xây dựng các mô hình phát triển sản xuất bằng năng lực của người dân, các mô hình nuôi gà đen, nuôi ong, nuôi dê, trồng cây, ủ phân vi sinh, trồng lúa năng suất cao... đã phát huy hiệu quả và đưa lại niềm tin cho nhân dân trong việc hỗ trợ chính sách cho đồng bào dân tộc; tất cả các dự án đưa về trên địa bàn miền núi khó khăn cần được sự tham vấn ý kiến của nhân dân, để dự án thật sự do người dân tham gia và quyết định những việc mình làm phù hợp với vùng, miền mới phát huy hiệu quả.

Qua giám sát còn cho thấy: có một số cơ chế chính sách quy định chưa sát với thực tế cần được điều chỉnh, bổ sung như nguồn vốn khai hoang, phục hóa, trồng nhận khoán và chăm sóc bảo vệ rừng thuộc chương trình 30a của Chính phủ lại đưa vào nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản nên trong quá trình thực hiện gặp nhiều khó khăn và khó thực hiện; hay trong quá trình thực hiện của các cơ quan, đơn vị có một số hạng mục chưa được triển khai hoặc có triển khai nhưng chậm và chưa đồng bộ như việc thực hiện các chương trình, dự án tập trung chủ yếu vào đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng mà chưa quan tâm đến việc đầu tư xây dựng bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc; việc lập kế hoạch phát triển kinh tế của từng hộ gia đình, từng thôn bản chưa được coi trọng. Do vậy, mục tiêu giảm nghèo nhanh và bền vững khó đạt kết quả như mong muốn.

Có thể khẳng định rằng: trong những năm qua, nhất là những năm gần đây Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách, chương trình, dự án hỗ trợ trực tiếp đối với người nghèo, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc đặc biệt khó khăn và nhờ đó đời sống vật chất lẫn tinh thần của đồng bào các dân tộc, miền núi từng bước được cải thiện và nâng cao, đồng thời tạo điều kiện cho các vùng này thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, chậm phát triển, hòa nhập vào sự phát triển chung của cả cộng đồng; hệ thống chính trị cơ sở, nhất là vùng đặc biệt khó khăn tiếp tục được củng cố; trật tự an toàn xã hội, an ninh quốc phòng, độc lập, tự chủ của đất nước được đảm bảo; góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc xóa đói giảm nghèo nói chung và đẩy mạnh chương trình hỗ trợ đồng bào các dân tộc đặc biệt khó khăn, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Tuy hoạt động giám sát của HĐND trong thời gian qua đã đạt được một số kết quả nhất định, nhưng vẫn là khâu yếu và hạn chế, nhất là “hậu giám sát” do:

Nhận thức của một số cơ quan, ban, ngành địa phương về công tác giám sát của HĐND chưa đầy đủ. Cho rằng giám sát là “vạch lá tìm sâu, bới lông tìm vết” nên nẩy sinh tâm lý ngại va chạm, ngại đấu tranh làm rõ nguyên nhân đúng sai, khắc phục sửa chữa để nâng cao trách nhiệm thực thi pháp luật và thực hiện nghị quyết của HĐND có kết quả.

Chức năng giám sát tuy đã xác định rõ, nhưng cơ chế giám sát cần phải được hoạch định rõ ràng và có chế tài trách nhiệm đối với các cơ quan, đơn vị chịu sự giám sát; quyền hạn và trách nhiệm trong hoạt động giám sát phải được chế định một cách cụ thể. Trên cơ sở đó những kiến nghị, đề xuất sau các cuộc giám sát mới được các cơ quan, ban, ngành liên quan tiếp thu khắc phục để triển khai thực hiện công việc tốt hơn.

Để hoạt động giám sát của HĐND ngày càng có chất lượng, hiệu qủa thì quy định của pháp luật phải bảo đảm cơ cấu tổ chức, con người để thực thi nhiệm vụ và các điều kiện phục vụ cho hoạt động HĐND đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ. Đặc biệt, với bộ máy tổ chức kiêm nhiệm như lâu nay sẽ không đảm bảo thực thi được quyền năng, trách nhiệm của HĐND. Vì vậy, xin nêu một số kiến nghị như sau:

Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động HĐND.

Sửa đổi luật tổ chức HĐND - UBND để làm rõ chức năng nhiệm vụ, gắn với bộ máy tổ chức phù hợp, trên cơ sở đó làm cho HĐND phát huy tốt bản chất dân chủ đại diện của nhân dân ở địa phương trong việc quyết định những vấn đề quan trọng và quyền giám sát thực thi pháp luật, nghị quyết của HĐND. Việc sửa đổi, bổ sung luật, có thể theo hướng như sau:

Về Thường trực HĐND:

Cần tăng cường bộ phận Thường trực HĐND trở thành Ban Thường trực HĐND hoạt động thường xuyên - là cơ quan đại diện cho HĐND trong các quan hệ với cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể.

Về các Ban HĐND:

Cần tăng số lượng đại biểu hoạt động chuyên trách ở các Ban HĐND và quy định rõ số lượng hoạt động chuyên trách ở các Ban HĐND, hoặc ít ra Trưởng, Phó ban phải là người hoạt động chuyên trách, trong đó Trưởng ban phải được cơ cấu trong Ban Thường trực HĐND cùng cấp. Thực tế hoạt động của các Ban HĐND như lâu nay là rất hình thức, bởi vì Lãnh đạo Ban và các thành viên đều hoạt động kiêm nhiệm, lại giữ vị trí quan trọng trong các cơ quan Đảng, đoàn thể, các doanh nghiệp và đơn vị sự nghiệp nên hầu như không còn thời gian làm nhiệm vụ của Ban. Cần ưu tiên bố trí đội ngũ đại biểu HĐND chuyên trách theo dõi lĩnh vực dân tộc có năng lực, có điều kiện và thực sự tâm huyết với nhiệm vụ.

Về điều kiện đảm bảo hoạt động của các Ban HĐND:

Để hoạt động của các Ban HĐND ngày càng có chất lượng, hiệu quả thì phải quy định rõ trong luật như: Các Ban của HĐND phải có phòng chức năng giúp việc trực tiếp, có tài khoản riêng và các điều kiện đảm bảo phục vụ cho hoạt động của các Ban HĐND đáp ứng được yêu cầu tối thiểu. Có như vậy, các Ban của HĐND mới chủ động hoàn toàn trong công việc của mình.

Về chất lượng đại biểu HĐND:

Khi lựa chọn cơ cấu đại biểu HĐND cần tính đến quy hoạch những đại biểu có trình độ chuyên môn nghiệp vụ và kinh nghiệm công tác để bố trí đúng với năng lực và sở trường của đại biểu, nhất là các đại biểu hoạt động trong các Ban của HĐND. Thực tế việc bầu cử đại biểu HĐND như bấy lâu nay vẫn còn nặng về tính cơ cấu, còn chất lượng đại biểu chưa được chú trọng.

Cần Ban hành Luật giám sát của Hội đồng nhân dân các cấp và chế tài trách nhiệm đối với các cơ quan, đơn vị liên quan sau các cuộc giám sát của Thường trực HĐND, các Ban của HĐND.

Về điều kiện đảm bảo cho hoạt động của HĐND:

Để hoạt động của HĐND ngày càng có chất lượng, hiệu quả thì ngoài việc sửa đổi trong luật quy định về cơ cấu tổ chức, con người để thực thi nhiệm vụ, cần phải quy định rõ các điều kiện phục vụ cho hoạt động HĐND đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ.

Bộ máy giúp việc của Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND có vai trò độc lập để phục vụ cho cơ quan quyền lực, cơ quan đại diện cho nhân dân ở địa phương. Tất cả đều phải được quy định cụ thể và nhất quán để làm cho bộ máy và mô hình tổ chức phải thống nhất cả nước để HĐND làm đúng chức trách nhiệm vụ của mình theo quy định của pháp luật;

Riêng lĩnh vực dân tộc, vùng đặc biệt khó khăn, xin kiến nghị:

Chính sách cho vùng này (nhất là chính sách về sinh kế) cần phải phù hợp với đặc điểm vùng miền về khí hậu, thời tiết và tập quán, phương pháp làm ăn; đặc biệt cần phải tham vấn ý kiến nhân dân trước khi ban hành chính sách để nhân dân được tham gia ý kiến và tự họ lựa chọn các mô hình sinh kế cho phù hợp, tránh tình trạng áp đặt từ trên xuống;

Cần phải nắm được dân, nắm bản sắc văn hóa của từng tộc người để lựa chọn phương pháp tiếp cận dân, tôn trọng và thừa nhận sự đa dạng văn hóa của đồng bào để ổn định chính trị vùng dân tộc.

Tăng cường vận động quần chúng, dân vận khéo trong đồng bào để tiếp tục cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư, xây dựng phong trào bảo vệ an ninh, củng cố quốc phòng vùng dân tộc, vùng biên giới; ổn định chính trị, tránh kích động, lợi dụng gây rối, bạo loạn.

    Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng đặc biệt khó khăn
    • Mặc định