Luật Tiếp cận thông tin: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân
Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 đã được Quốc hội khóa XVI thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất (ngày 23/4/2026) và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/9/2026. Luật tiếp tục thể chế hóa các quan điểm của Đảng về bảo vệ, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân; tăng cường tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của các cơ quan, đơn vị trong hoạt động quản lý nhà nước và cung ứng dịch vụ công cơ bản, thiết yếu.
Mở rộng phạm vi thông tin phải được công khai
Luật Tiếp cận thông tin quy định về việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân; trách nhiệm của cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập có nhiệm vụ cung ứng dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu (sau đây gọi là cơ quan, đơn vị) trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân. Luật đã bổ sung nhiều quy định mới, cùng với cơ quan nhà nước, Luật Tiếp cận thông tin đã bổ sung quy định các đơn vị sự nghiệp công lập có nhiệm vụ cung ứng dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu cũng có trách nhiệm cung cấp thông tin. Quy định này nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng tính minh bạch của các đơn vị sự nghiệp công lập.

Bên cạnh đó, Luật cũng điều chỉnh phạm vi và trách nhiệm cung cấp thông tin của Ủy ban nhân dân cấp xã cho phù hợp với thực tiễn và mô hình tổ chức mới sau sắp xếp. Theo đó, Luật quy định Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm cung cấp thông tin do mình tạo ra nhưng không phải cung cấp thông tin nhận được từ cơ quan khác (trừ một số trường hợp theo quy định). Đầu mối cung cấp thông tin cũng do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp xã chủ động xác định, phù hợp với điều kiện thực tế.
Đáng chú ý, Luật đã mở rộng phạm vi thông tin phải được công khai. Điều 17 của Luật đã liệt kê nhiều thông tin phải được công khai. Trên cơ sở kế thừa các quy định trước đây, Luật đã bổ sung thêm các nhóm thông tin quan trọng gắn trực tiếp với đời sống người dân và hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp như: thông tin xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, dược, lao động, sản xuất, buôn bán hàng giả mà gây hậu quả lớn hoặc ảnh hưởng xấu về dư luận xã hội; kết luận kiểm định, đánh giá chất lượng nhà chung cư, kế hoạch cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư; các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh vi phạm pháp luật về y tế; thông tin chung về cơ sở giáo dục, thu, chi tài chính của cơ sở giáo dục, kế hoạch và kết quả hoạt động đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên; giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh...
6 nhóm thông tin công dân không được tiếp cận
Cùng với việc quy định rõ thông tin phải công khai minh bạch, Luật cũng quy định rõ 6 nhóm thông tin công dân không được tiếp cận. Theo đó, thông tin công dân không được tiếp cận gồm:
Một là, thông tin thuộc bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước. Khi thông tin thuộc bí mật nhà nước được giải mật thì công dân được tiếp cận theo quy định của Luật này.
Hai là, thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình theo quy định của pháp luật dân sự và dữ liệu cá nhân theo quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân, trừ trường hợp thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân được tiếp cận trong trường hợp được người đó đồng ý. Thông tin liên quan đến bí mật gia đình được tiếp cận trong trường hợp được các thành viên gia đình đồng ý. Việc tiếp cận thông tin thuộc dữ liệu cá nhân thực hiện theo quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Ba là, bí mật kinh doanh theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ, trừ trường hợp thông tin liên quan đến bí mật kinh doanh được tiếp cận trong trường hợp chủ sở hữu bí mật kinh doanh đó đồng ý.
Bốn là, thông tin mà nếu cung cấp sẽ gây nguy hại đến lợi ích của Nhà nước, ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh quốc gia, đối ngoại, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng, gây nguy hại đến tính mạng, sức khỏe, quyền và lợi ích hợp pháp hoặc tài sản của cơ quan, tổ chức hoặc người khác. Việc xác định thông tin tại khoản này thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan; trường hợp pháp luật chưa quy định, căn cứ vào điều kiện thực tế, người đứng đầu cơ quan, đơn vị có trách nhiệm xem xét, quyết định việc cung cấp thông tin.
Năm là, thông tin thuộc bí mật công tác do cơ quan, đơn vị xác định theo quy định của pháp luật.
Sáu là, thông tin về cuộc họp nội bộ của cơ quan, đơn vị; tài liệu do cơ quan, đơn vị soạn thảo cho công việc nội bộ.
Đa dạng các hình thức công khai, cung cấp thông tin
Với nguyên tắc việc cung cấp thông tin phải đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, tăng cường cung cấp thông tin trên môi trường số; bảo đảm việc cung cấp thông tin kịp thời, minh bạch, thuận lợi cho công dân, Luật Tiếp cận thông tin đã thể hiện rõ việc đa dạng hóa các hình thức công khai, cung cấp thông tin, đồng thời khuyến khích mạnh mẽ phương thức điện tử. Theo đó, các hình thức công khai thông tin bao gồm: đăng tải trên cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử, cổng dữ liệu, các kênh thông tin, trang cộng đồng chính thức của cơ quan, đơn vị; công khai trên phương tiện thông tin đại chúng; đăng Công báo, niêm yết; thông qua việc tiếp công dân, họp báo, thông cáo báo chí, hoạt động của người phát ngôn; các hình thức khác thuận lợi cho công dân do cơ quan, đơn vị có trách nhiệm công khai thông tin xác định.

Việc đa dạng các hình thức công khai, cung cấp thông tin, đồng thời khuyến khích áp dụng phương thức điện tử nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu tiếp cận thông tin của công dân trong môi trường số. Việc mở rộng các kênh cung cấp thông tin trên môi trường điện tử giúp người dân có thể chủ động tìm kiếm, tiếp nhận và sử dụng thông tin nhanh chóng, thuận tiện, không bị giới hạn bởi không gian và thời gian. Quy định này còn góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Khi thông tin được công khai đầy đủ, kịp thời và dễ tiếp cận, người dân có thêm cơ sở để giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, tham gia đóng góp ý kiến và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Đồng thời, đây cũng là động lực để các cơ quan nhà nước đổi mới phương thức hoạt động, tăng cường số hóa, chuẩn hóa và cập nhật dữ liệu. Do đó, đây không chỉ là sự thay đổi về cách thức cung cấp thông tin, mà còn thể hiện bước chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ, lấy người dân làm trung tâm.
Với những quy định mới của Luật Tiếp cận thông tin đã đáp ứng yêu cầu của chuyển đổi số và sự thay đổi trong phương thức tương tác giữa Nhà nước với người dân. Khi thông tin được đưa đến người dân nhanh hơn, thuận tiện hơn và minh bạch hơn, quyền làm chủ của Nhân dân cũng được bảo đảm thực chất hơn; tăng cường trách nhiệm giải trình, củng cố niềm tin của người dân đối với cơ quan công quyền. Đây là nền tảng quan trọng để xây dựng nền hành chính hiện đại, công khai, minh bạch, lấy người dân làm trung tâm, đồng thời tạo môi trường thuận lợi để người dân tham gia, giám sát và đồng hành cùng Nhà nước trong quá trình quản trị và phát triển đất nước.
Theo Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh, việc xây dựng và ban hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 (thay thế Luật Tiếp cận thông tin năm 2016) nhằm tiếp tục thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng về phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của Nhân dân, đặc biệt là thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.
Bên cạnh đó, việc ban hành Luật còn nhằm đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong tình hình mới.

