Quốc hội và Cử tri

Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt: Từ yêu cầu quốc phòng, an ninh đến không gian phát triển

ĐBQH hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại Trịnh Xuân An 30/08/2026 13:02

Ngày 23/8/2026, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt với sự đồng thuận rất cao. Đây là một đạo luật mới, khó, có tính chuyên môn sâu, phạm vi tác động rộng, liên quan đồng thời đến quốc phòng, an ninh, đối ngoại, khoa học và công nghệ, tài chính, ngân hàng, thương mại, hải quan và nhiều lĩnh vực quản lý chuyên ngành.

Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt: Từ yêu cầu quốc phòng, an ninh đến không gian phát triển

Ngày 23/8/2026, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt với sự đồng thuận rất cao. Đây là một đạo luật mới, khó, có tính chuyên môn sâu, phạm vi tác động rộng, liên quan đồng thời đến quốc phòng, an ninh, đối ngoại, khoa học và công nghệ, tài chính, ngân hàng, thương mại, hải quan và nhiều lĩnh vực quản lý chuyên ngành.

Việc ban hành Luật trước hết nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý để phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn nguy cơ phổ biến và tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt; bảo vệ quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, dân tộc; đồng thời thực hiện đầy đủ, có trách nhiệm các nghĩa vụ quốc tế của Việt Nam.

Đủ năng lực để bảo đảm quốc phòng an ninh cho phát triển và mở rộng không gian phát triển trong điều kiện an toàn

Với một đạo luật rất đặc thù như vậy, câu hỏi khó không chỉ là cần kiểm soát những gì, mà còn là kiểm soát như thế nào. Bởi nhiều loại hàng hóa, vật liệu, thiết bị, phần mềm, công nghệ cần kiểm soát cũng chính là đầu vào của nghiên cứu khoa học, y tế, công nghiệp, chuyển đổi số, thương mại và đổi mới sáng tạo.

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Doãn Anh điều hành nội dung chiều 1
Phó Chủ tịch Quốc hội, Thượng tướng Nguyễn Doãn Anh điều hành nội dung thông qua Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt. Ảnh: Khánh Duy

Kiểm soát không đủ chặt có thể tạo ra khoảng trống đối với quốc phòng, an ninh; nhưng nếu kiểm soát quá mức, mở rộng tiền kiểm, phát sinh thêm thủ tục và chi phí tuân thủ thì lại có thể cản trở những hoạt động khoa học, công nghệ, sản xuất, kinh doanh hợp pháp mà đất nước đang cần thúc đẩy.

Bài toán của Luật vì vậy không phải lựa chọn giữa quốc phòng an ninh hay phát triển, mà là xây dựng một hệ thống quản trị đủ năng lực để bảo đảm quốc phòng an ninh cho phát triển và mở rộng không gian phát triển trong điều kiện an toàn.

Đây không phải vấn đề riêng của Việt Nam. Nghị quyết 1540 (2004) của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc xác định phổ biến vũ khí hạt nhân, hóa học và sinh học cùng phương tiện mang chúng là mối đe dọa đối với hòa bình và an ninh quốc tế. Nghị quyết yêu cầu các quốc gia xây dựng và thực thi pháp luật hiệu quả, thiết lập các biện pháp kiểm soát trong nước, kiểm soát xuất khẩu, quá cảnh, biên giới, người sử dụng cuối cùng và các hoạt động tài trợ có liên quan.

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Doãn Anh điều hành nội dung chiều
Phó Chủ tịch Quốc hội, Thượng tướng Nguyễn Doãn Anh điều hành nội dung thông qua Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt. Ảnh: Khánh Duy

Điều rất đáng chú ý là Nghị quyết 1540 đồng thời khẳng định việc ngăn chặn phổ biến không nên cản trở hợp tác quốc tế về vật liệu, thiết bị và công nghệ phục vụ mục đích hòa bình; ngược lại, mục đích hòa bình cũng không thể trở thành vỏ bọc cho hoạt động phổ biến.

Như vậy, ngay từ khuôn khổ pháp lý quốc tế, bài toán đã được đặt ra trên cả hai vế: kiểm soát phải đủ mạnh để ngăn chặn nguy cơ, nhưng cũng phải đủ chính xác để không ngăn cản những dòng chảy khoa học, công nghệ, thương mại và hợp tác quốc tế hợp pháp.

Tinh thần này được thể hiện khá rõ trong Luật vừa được Quốc hội thông qua.

Theo tôi, một trong những quy định thể hiện tập trung nhất tư tưởng của đạo luật nằm ở khoản 6 Điều 4: “Bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu phòng, chống phổ biến, tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt với thúc đẩy nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế - xã hội”.

Đây không đơn thuần là một nguyên tắc kỹ thuật mà thể hiện một lựa chọn về tư duy quản trị: không đặt quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế - xã hội ở hai phía của sự lựa chọn mang tính đánh đổi. Đáng chú ý, nguyên tắc ở khoản 6 không đứng riêng. Nếu khoản 6 xác định mục tiêu cân bằng, thì khoản 2 và khoản 4 Điều 4 chỉ ra hai phương thức quan trọng để đạt được mục tiêu đó: quản lý, kiểm soát trên cơ sở đánh giá rủi ro và không tạo ra cơ chế, thủ tục quản lý trùng lặp với pháp luật chuyên ngành.

Quản lý dựa trên rủi ro - phương thức để cân bằng giữa kiểm soát và phát triển

Quản lý dựa trên rủi ro - phương thức để cân bằng giữa kiểm soát và phát triển. Đây là điểm đáng chú ý của Luật, đó là đưa quản lý dựa trên rủi ro trở thành phương pháp xuyên suốt, thay vì kiểm soát đồng loạt các chủ thể và hoạt động.

Điều 10 quy định về đánh giá rủi ro quốc gia về phổ biến, tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt. Giá trị của đánh giá không nằm ở việc tạo thêm một báo cáo, mà ở chỗ kết quả đánh giá trở thành căn cứ để xây dựng, điều chỉnh chính sách, kế hoạch, Danh mục kiểm soát, tiêu chí quản lý rủi ro, cơ chế cảnh báo sớm; xác định đối tượng, hoạt động thuộc diện quản lý, kiểm soát và áp dụng các biện pháp phù hợp.

Quốc hội thông qua Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt. Ảnh: Lâm Hiển
Quốc hội thông qua Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt. Ảnh: Lâm Hiển

Đặc biệt, kết quả đánh giá rủi ro được chia sẻ, khai thác, sử dụng chung với hệ thống quản lý rủi ro trong hải quan, quản lý thuế, phòng, chống rửa tiền và các lĩnh vực chuyên ngành liên quan. Đây là một lựa chọn quan trọng: không tạo thêm một hệ thống quản lý biệt lập mà kết nối, kế thừa các công cụ quản trị hiện có.

Điều 11 tiếp tục cụ thể hóa phương pháp này bằng hệ thống tiêu chí đánh giá. Rủi ro không chỉ được nhìn từ bản thân hàng hóa, vật liệu hay công nghệ, mà được xem xét toàn diện từ nguy cơ, khả năng bị lợi dụng, năng lực phòng ngừa đến hậu quả tiềm tàng. Trong đó có mức độ tuân thủ, hiệu quả chương trình tuân thủ nội bộ, việc kiểm soát người sử dụng cuối cùng và mục đích sử dụng cuối cùng, chuỗi cung ứng, công nghệ, tuyến vận chuyển và hạ tầng số.

Đáng chú ý, hậu quả tiềm tàng không chỉ được xem xét dưới góc độ quốc phòng, an ninh, đối ngoại mà cả tác động đối với kinh tế, thương mại, đầu tư, khoa học, công nghệ và hoạt động hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Điều đó cho thấy đánh giá rủi ro quốc phòng an ninh không tách rời việc đánh giá tác động đối với phát triển. Phương pháp này phù hợp với chuẩn mực quốc tế và xu hướng quản trị hiện đại.

Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phan Văn Giang
Phó Thủ tướng Chính, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại tướng Phan Văn Giang phát biểu tại phiên họp toàn thể của Quốc hội ngày 23/8. Ảnh: Hồ Long

Trong lĩnh vực phòng, chống rửa tiền và tài trợ phổ biến, FATF coi cách tiếp cận dựa trên rủi ro là một thành tố quan trọng: quốc gia và các chủ thể có liên quan phải nhận diện, đánh giá, hiểu rủi ro để áp dụng biện pháp tương xứng và tập trung nguồn lực vào nơi có nguy cơ cao hơn.

Tinh thần đó tiếp tục được cụ thể hóa tại Điều 21 về đánh giá rủi ro quốc gia về tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt. Đây là yêu cầu đặc biệt cần thiết khi nguồn tiền, tài sản, dịch vụ tài chính và các phương thức chuyển giao giá trị ngày càng đa dạng, có thể đi qua nhiều chủ thể và nhiều lớp giao dịch. Đánh giá rủi ro cho phép nhận diện lĩnh vực, sản phẩm, dịch vụ, chủ thể và phương thức có nguy cơ cao để áp dụng biện pháp phòng ngừa, giám sát và phân bổ nguồn lực tương ứng.

ĐBQH Trịnh Xuân An (TP. Đồng Nai) phát biểu
ĐBQH Trịnh Xuân An (TP. Đồng Nai) phát biểu tại hội trường. Ảnh: Phạm Thắng

Cũng cần nhấn mạnh rằng, quản lý dựa trên rủi ro không có nghĩa là nới lỏng quản lý. Ngược lại, đó là phương thức để quản lý chính xác hơn: nguy cơ cao phải được tập trung nguồn lực và kiểm soát chặt hơn; những hoạt động có rủi ro thấp, chủ thể tuân thủ tốt không nhất thiết phải chịu cùng một mức độ kiểm soát.

Đối với những nghĩa vụ bắt buộc, nhất là trừng phạt tài chính mục tiêu, vẫn phải thực hiện đầy đủ theo quy định. Đây cũng không phải phương thức hoàn toàn mới ở Việt Nam. Quản lý rủi ro đã được áp dụng trong hải quan, quản lý thuế, phòng, chống rửa tiền và ngày càng trở thành một phương pháp quan trọng của quản trị nhà nước hiện đại.

Có thể nói, quản lý dựa trên rủi ro cho phép chuyển từ “quản lý nhiều” sang “quản lý đúng”; từ kiểm soát đồng đều sang kiểm soát có trọng tâm, trọng điểm; từ phụ thuộc nhiều vào thủ tục sang dựa ngày càng nhiều hơn vào dữ liệu, phân tích và mức độ tuân thủ. Đây chính là một trong những phương thức quan trọng nhất để hiện thực hóa khoản 6 Điều 4.

Hài hòa giữa an ninh và phát triển

Nhìn một cách tổng thể, có thể thấy tinh thần hài hòa giữa an ninh và phát triển còn được cụ thể hóa qua nhiều thiết kế khác của Luật:

Trước hết là, Danh mục kiểm soát. Luật không thiết kế Danh mục để hình thành thêm một lớp quản lý chồng lên các danh mục chuyên ngành. Hàng hóa lưỡng dụng, dịch vụ vẫn được quản lý theo pháp luật chuyên ngành; chỉ khi có cảnh báo rủi ro và thông tin hiện có chưa đủ để đánh giá mới yêu cầu bổ sung thông tin trực tiếp phục vụ phòng, chống phổ biến. Tư tưởng ở đây rất rõ: thêm yêu cầu quản lý không nhất thiết phải thêm một thủ tục quản lý.

Thứ hai là, kiểm soát người sử dụng cuối cùng và mục đích sử dụng cuối cùng. Đây là khâu đặc biệt quan trọng bởi cùng một loại hàng hóa, thiết bị hoặc công nghệ nhưng mức độ rủi ro có thể hoàn toàn khác nhau tùy thuộc ai sử dụng và sử dụng để làm gì. Luật yêu cầu kiểm soát dựa trên rủi ro, không làm phát sinh nghĩa vụ trùng lặp; cơ quan có thẩm quyền phải rà soát, kế thừa dữ liệu đã có trước khi yêu cầu tổ chức, cá nhân cung cấp thêm. Có thể hiểu rất rõ tinh thần của quy định này: không chuyển sự thiếu hụt thông tin hoặc khả năng kết nối dữ liệu của cơ quan quản lý thành chi phí tuân thủ của doanh nghiệp.

Thứ ba là, chương trình tuân thủ nội bộ và chế độ ưu tiên. Chương trình tuân thủ có thể được xây dựng độc lập hoặc tích hợp vào hệ thống quản trị hiện có của doanh nghiệp và trở thành một căn cứ xem xét áp dụng chế độ ưu tiên. Cách tiếp cận này từng bước chuyển doanh nghiệp từ “đối tượng quản lý” thành chủ thể cùng tham gia quản trị rủi ro. Doanh nghiệp tuân thủ tốt được tạo thuận lợi; nguồn lực quản lý tập trung hơn vào những chủ thể và hoạt động có nguy cơ cao.

Cuối cùng là, dữ liệu và cảnh báo sớm. Một đạo luật lấy phòng ngừa và quản lý rủi ro làm nền tảng không thể vận hành hiệu quả nếu thiếu dữ liệu và khả năng kết nối dữ liệu. Dữ liệu càng đầy đủ, khả năng phân tích càng tốt thì Nhà nước càng có điều kiện phát hiện đúng nguy cơ và giảm phụ thuộc vào kiểm tra hồ sơ, tiền kiểm và yêu cầu doanh nghiệp cung cấp lại thông tin. Ở đây, chuyển đổi số có ý nghĩa hai chiều: vừa là không gian phát triển cần được bảo vệ, vừa là công cụ giúp Nhà nước kiểm soát chính xác hơn với mức độ can thiệp hành chính thấp hơn.

Càng nâng cao năng lực quản trị và kiểm soát, càng phải mở rộng được không gian an toàn cho phát triển

Luật đã được Quốc hội thông qua, nhưng với một đạo luật mới, liên ngành và có hàm lượng kỹ thuật cao, tổ chức thi hành mới là phép thử thực sự đối với những nguyên tắc mà Quốc hội đã lựa chọn. Khoản 6 Điều 4 vì vậy cần tiếp tục trở thành một “thước đo” trong xây dựng văn bản hướng dẫn và tổ chức thực hiện.

Nếu quá trình này lại phát sinh thêm giấy phép, thêm chế độ báo cáo, thêm cơ sở dữ liệu biệt lập; nếu thông tin Nhà nước đã có vẫn yêu cầu doanh nghiệp cung cấp lại; nếu quản lý rủi ro cuối cùng trở thành kiểm tra đồng loạt thì tinh thần của Điều 4 sẽ bị suy giảm trong thực thi.

Ngược lại, nếu xây dựng được tiêu chí rủi ro tốt, dữ liệu tốt, kết nối tốt, cảnh báo sớm và hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực tuân thủ thì hoàn toàn có thể nâng mức độ an toàn mà không đồng thời nâng mức độ cản trở.

Từ tinh thần Nghị quyết 1540 đến khoản 6 Điều 4 của Luật có thể thấy một thông điệp nhất quán: vì quốc phòng an ninh không có nghĩa là đóng cửa; kiểm soát không đồng nghĩa với ngăn cản phát triển.

Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt là yêu cầu bảo vệ quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, dân tộc và trách nhiệm của Việt Nam đối với hòa bình, an ninh quốc tế. Nhưng chính vì tính chất đặc biệt nghiêm trọng của nguy cơ này, hệ thống quản lý càng phải đủ năng lực để phân biệt nguy cơ cần ngăn chặn với những dòng chảy khoa học, công nghệ, đầu tư, thương mại và hợp tác hòa bình cần được khuyến khích.

Bởi vậy, có thể cô đọng tinh thần của đạo luật trong một yêu cầu: kiểm soát đúng nguy cơ, đúng đối tượng, đúng mức độ; càng nâng cao năng lực quản trị và kiểm soát thì càng phải mở rộng được không gian an toàn cho phát triển.

Đó cũng là một biểu hiện cụ thể của tư duy lập pháp trong giai đoạn phát triển mới: bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh để kiến tạo phát triển; đồng thời lấy chính sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước để củng cố ngày càng vững chắc tiềm lực quốc phòng, an ninh.

    Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt: Từ yêu cầu quốc phòng, an ninh đến không gian phát triển
    • Mặc định