Lào Cai: Từ khung hạ tầng đến sinh kế bền vững cho người dân vùng cao
Từ chủ trương, chính sách của Trung ương đến công tác tham mưu, hướng dẫn, kiểm tra của ngành Dân tộc và Tôn giáo tại địa phương, Chương trình mục tiêu quốc gia 1719 đã góp phần làm thay đổi diện mạo vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tỉnh Lào Cai. Trong giai đoạn 2026 - 2030, tỉnh đặt mục tiêu nâng thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số lên 60 triệu đồng/người/năm, cơ bản không còn xã, thôn đặc biệt khó khăn và hướng nguồn lực ngày càng sát hơn với nhu cầu thực chất của người dân.
Nguồn lực lớn tạo những đổi thay từ cơ sở
Tỉnh Lào Cai sau hợp nhất có diện tích hơn 13.256 km², dân số gần 1,78 triệu người. Trên 1 triệu người là đồng bào dân tộc thiểu số, chiếm 60,9% dân số toàn tỉnh. Trong 99 đơn vị hành chính cấp xã, có 95 xã thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; 47 xã khu vực III. Toàn tỉnh có 2.438 thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, trong đó 1.033 thôn đặc biệt khó khăn.

Với địa bàn rộng, dân cư phân tán, tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số cao, việc triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (Chương trình 1719) được Lào Cai xác định là một trong những nhiệm vụ chính trị trọng tâm, có ý nghĩa chiến lược đối với phát triển bền vững. Sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị cùng nguồn lực đầu tư tập trung đã từng bước tạo nên những thay đổi rõ nét ở nhiều địa bàn vùng cao.
Giai đoạn 2021 - 2025, tổng nguồn vốn ngân sách Trung ương thực hiện Chương trình trên địa bàn tỉnh đạt hơn 6.309 tỷ đồng, trong đó gần 5.423 tỷ đồng đã được giải ngân, đạt 85,96%. Đáng chú ý, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư phát triển đạt 96,9%, cho thấy nguồn lực dành cho kết cấu hạ tầng đã được triển khai khá mạnh mẽ.
Những con số về nguồn vốn được cụ thể hóa bằng hàng trăm công trình thiết yếu. Riêng các số liệu tổng hợp của giai đoạn cho thấy 678 công trình hạ tầng gồm giao thông, trường học, thủy lợi, điện, nhà văn hóa và các công trình dân sinh khác đã được đầu tư; gần 268km đường giao thông được cứng hóa. Qua đó, 100% xã có đường ô tô đến trung tâm được nhựa hóa hoặc bê tông hóa, trên 95% thôn có đường ô tô đi lại thuận tiện quanh năm.

Cùng với giao thông, việc bảo đảm những điều kiện thiết yếu cho cuộc sống của người dân cũng có bước tiến đáng kể. Hàng nghìn hộ được hỗ trợ về nhà ở, hơn 17.500 hộ được hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán và 55 công trình cấp nước tập trung được đầu tư. Tỷ lệ hộ sử dụng nước hợp vệ sinh từng bước được nâng lên.
Nếu hạ tầng tạo “khung” cho phát triển thì sinh kế chính là yếu tố quyết định khả năng vươn lên lâu dài của đồng bào. Một điểm đáng chú ý trong giai đoạn vừa qua là cách thức hỗ trợ đã từng bước chuyển từ đơn lẻ sang phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị, phù hợp với điều kiện của từng địa bàn. Toàn tỉnh triển khai 242 dự án phát triển sản xuất, gồm 29 dự án liên kết theo chuỗi giá trị và 213 dự án cộng đồng; đồng thời thực hiện bảo vệ rừng, trồng mới hơn 1.329ha rừng sản xuất. Qua các mô hình trồng dược liệu, chăn nuôi, phát triển sản phẩm đặc trưng và du lịch cộng đồng, tư duy sản xuất hàng hóa từng bước được hình thành, mở thêm cơ hội việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân.
Chương trình cũng tạo chuyển biến trên các lĩnh vực giáo dục, đào tạo nghề, y tế và văn hóa. Tỉnh đã tổ chức 169 lớp đào tạo nghề cho gần 6.000 lao động; hỗ trợ hàng nghìn lao động tiếp cận việc làm, trong đó có 741 lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Hệ thống y tế cơ sở được củng cố, các chương trình chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em được triển khai, tỷ lệ phụ nữ sinh con tại cơ sở y tế đạt khoảng 94%. Công tác bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc cũng được gắn ngày càng chặt chẽ hơn với phát triển du lịch cộng đồng.

Quan trọng hơn, những nguồn lực đầu tư đã từng bước chuyển hóa thành cải thiện đời sống. Tỷ lệ giảm nghèo bình quân đạt trên 4%/năm, riêng vùng đồng bào dân tộc thiểu số giảm trên 6,3%/năm; thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số năm 2025 đạt trên 33 triệu đồng/người/năm, khoảng gấp đôi so với đầu giai đoạn.
Theo tổng hợp đến đầu tháng 7/2026, có 23/32 chỉ tiêu của Chương trình được dự kiến đạt hoặc vượt mục tiêu cả giai đoạn; 100% xã có đường ô tô đến trung tâm được rải nhựa hoặc bê tông, 90% thôn có đường ô tô đến trung tâm được cứng hóa, 98% xã có trạm y tế được xây dựng kiên cố. Tỷ lệ hộ dân sử dụng điện lưới quốc gia và các nguồn điện phù hợp đạt khoảng 99%; tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt khoảng 98,6%.
Nhìn từ những kết quả đó, dấu ấn lớn nhất của Chương trình 1719 không chỉ nằm ở số lượng công trình hay quy mô nguồn vốn. Những tuyến đường, công trình điện, nước, trường học, trạm y tế và các mô hình sinh kế đã từng bước mở rộng cơ hội phát triển cho người dân, tạo nền tảng để vùng cao thu hẹp khoảng cách với các khu vực thuận lợi hơn.
Lấy thu nhập và chất lượng cuộc sống làm thước đo
Những thành quả của giai đoạn 2021 - 2025 là nền tảng quan trọng, nhưng thực tiễn cũng cho thấy một số mục tiêu vẫn cần tiếp tục tập trung nguồn lực. Tỉnh xác định còn 8 chỉ tiêu khó hoàn thành, liên quan đến số xã, thôn ra khỏi diện đặc biệt khó khăn; tiếp cận thông tin; giải quyết đất ở, đất sản xuất; bảo hiểm y tế và sắp xếp, ổn định dân cư. Một số khu vực vùng cao vẫn thiếu nước vào mùa khô, điện lưới chưa ổn định; không ít công trình hạ tầng thường xuyên chịu tác động của lũ quét, sạt lở.
Hiệu quả các dự án hỗ trợ phát triển sản xuất cũng chưa đồng đều. Một số doanh nghiệp, hợp tác xã tham gia liên kết còn nhỏ, thị trường chưa ổn định; thủ tục thẩm định có lúc kéo dài, trong khi mối liên kết giữa đơn vị chủ trì dự án với người dân chưa thật sự chặt chẽ. Đây là những vấn đề đặt ra yêu cầu phải điều chỉnh cách thức tổ chức thực hiện trong chặng đường tiếp theo.

Đáng chú ý, trong 103 dự án tỉnh đề xuất cho Hợp phần thứ hai của giai đoạn 2026–2030, có 94 dự án đầu tư xây dựng, hoàn thiện cơ sở hạ tầng đặc thù và 9 dự án thuộc nhóm hỗ trợ phát triển sản xuất, tạo sinh kế, nâng cao thu nhập. Thực tế này đặt ra yêu cầu tiếp tục đầu tư hạ tầng thiết yếu nhưng đồng thời phải bảo đảm mỗi công trình được gắn với sinh kế, việc làm, thị trường và khả năng tự vươn lên của người dân.
Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, Lào Cai đặt mục tiêu nâng thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số từ mức hơn 33 triệu đồng lên 60 triệu đồng/người/năm; phấn đấu cơ bản không còn xã, thôn đặc biệt khó khăn; tiếp tục cải thiện điều kiện nhà ở, sắp xếp dân cư, nước sinh hoạt, điện, giao thông và dịch vụ số.
Để những mục tiêu này đi vào thực chất, tỉnh định hướng sắp xếp danh mục đầu tư theo mức độ thiếu hụt và số người hưởng lợi, ưu tiên 47 xã khu vực III, 1.033 thôn đặc biệt khó khăn, các địa bàn biên giới và khu vực có nguy cơ cao về sạt lở, lũ quét. Mỗi dự án phải làm rõ đầu ra, đối tượng thụ hưởng, phương án vận hành, nguồn kinh phí bảo trì và tác động trực tiếp đến thu nhập, mức sống của người dân.
Cùng với đó là yêu cầu tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách, đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế xanh, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, bảo tồn bản sắc văn hóa các dân tộc, giữ vững quốc phòng - an ninh và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Kinh nghiệm giai đoạn trước cho thấy, hiệu quả Chương trình phụ thuộc rất lớn vào trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền cơ sở, khả năng tháo gỡ vướng mắc kịp thời và mức độ tham gia của chính người dân. Nơi người dân được biết, được bàn, được tham gia giám sát, nguồn lực đầu tư cũng có điều kiện phát huy hiệu quả rõ rệt hơn.
Bởi vậy, trong chặng đường mới, thành công của Chương trình 1719 tại Lào Cai sẽ không chỉ được đo bằng số công trình hoàn thành hay tỷ lệ vốn giải ngân. Thước đo quan trọng hơn là bao nhiêu hộ dân có nước sạch, có điện ổn định, đường đi thuận lợi; bao nhiêu việc làm và sinh kế được tạo ra; thu nhập của đồng bào tăng lên như thế nào và chất lượng cuộc sống ở những địa bàn khó khăn nhất được cải thiện ra sao.
Đó cũng là cách để nguồn lực của Chương trình tiếp tục đi từ những công trình cụ thể đến những thay đổi bền vững trong từng bản làng, từng gia đình; tạo động lực để vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi Lào Cai bước vào giai đoạn phát triển mới với nền tảng vững chắc hơn.

