Làm rõ hơn nữa ranh giới giữa các nhóm chính sách nhà ở
Nhất trí định hướng sửa đổi Luật Nhà ở cần hướng tới bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận chỗ ở an toàn, ổn định, phù hợp với khả năng chi trả của người dân, các ĐBQH cũng đề nghị làm rõ hơn nữa ranh giới giữa các nhóm chính sách nhà ở; phân định rõ hơn mục tiêu, đối tượng thụ hưởng, điều kiện tiếp cận và cơ chế hỗ trợ tương ứng nhằm bảo đảm chính sách đi đúng đối tượng, nguồn lực, công cụ được sử dụng đúng mục tiêu.

ĐBQH Lương Thị Hoa (Thanh Hóa):
Thể chế hóa mạnh mẽ hơn nữa chính sách ưu tiên phát triển nhà ở cho thuê
Sửa đổi Luật Nhà ở cần hướng tới bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận chỗ ở an toàn, ổn định, phù hợp với khả năng chi trả của người dân. Tôi đề nghị làm rõ ranh giới giữa các nhóm chính sách nhà ở.

Dự thảo Luật đã tiếp cận theo hướng phân loại nhà ở thành nhà ở thương mại, nhà ở cho thuê, nhà ở công vụ và nhà ở chính sách. Nếu chỉ sắp xếp lại các loại hình nhà ở hiện có theo các nhóm mới thì chưa đủ để tạo ra chuyển biến thực chất trong quản lý và phân bổ nguồn lực. Vấn đề đặt ra là cần phân biệt rõ giữa nhà ở chính sách với nhà ở xã hội. Nhà ở chính sách phải được hiểu theo nghĩa rộng hơn, thể hiện trách nhiệm của Nhà nước đối với các trường hợp cần hỗ trợ cụ thể. Còn nhà ở xã hội là một công cụ quan trọng để thực hiện chính sách đó nhưng không thể bao quát toàn bộ chính sách nhà ở.
Tôi đề nghị dự thảo Luật quy định rõ hơn mục tiêu, đối tượng thụ hưởng, điều kiện tiếp cận và cơ chế hỗ trợ tương ứng đối với từng nhóm nhà ở. Việc phân định này bảo đảm chính sách đi đúng đối tượng, nguồn lực, công cụ được sử dụng đúng mục tiêu, đồng thời khắc phục tình trạng chồng lấn giữa các khái niệm và các cơ chế hỗ trợ.
Cùng với đó, cần xác định rõ nguyên tắc phát triển nhà ở không chỉ nhằm hỗ trợ những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, mà còn phải mở rộng cơ hội có chỗ ở phù hợp cho người lao động và những nhóm đang gặp áp lực lớn về nhà ở nhưng chưa đủ khả năng tiếp cận thị trường nhà ở thương mại.
Tôi đề nghị thể chế hóa mạnh mẽ hơn nữa chính sách ưu tiên phát triển nhà ở cho thuê. Cần thiết kế cơ chế ưu đãi thực chất đối với dự án nhà ở cho thuê, nhất là nhà ở cho thuê dài hạn, ưu đãi về đất đai, tín dụng, thuế hoặc thủ tục đầu tư phải đi kèm nghĩa vụ duy trì quỹ nhà ở cho thuê trong thời hạn đủ dài, bảo đảm tiêu chuẩn, chất lượng và thực hiện cơ chế kiểm soát giá thuê hợp lý.
Không thể ưu đãi bằng mọi giá và càng không thể để ưu đãi trở thành kẽ hở cho trục lợi, chủ đầu tư được hưởng ưu đãi phải chịu trách nhiệm thực hiện đúng cam kết về mục tiêu cho thuê, thời hạn cho thuê, chất lượng nhà ở và giá thuê, nếu vi phạm thì cần có cơ chế thu hồi hoặc xử lý phù hợp. Làm tốt chính sách nhà ở cho thuê sẽ vừa đáp ứng nhu cầu thực tế của người dân, vừa góp phần điều tiết phân bố dân cư, giảm áp lực hạ tầng tại các đô thị và tạo ra một thị trường nhà ở cân bằng, linh hoạt hơn.
ĐBQH Võ Ngọc Thanh Trúc (TP. Hồ Chí Minh):
Không để người dân gánh chịu rủi ro

Để hoàn thiện dự án Luật Nhà ở (sửa đổi), tôi đề nghị, thứ nhất, phải xác định đúng người được hưởng chính sách. Trong đó, đề nghị bổ sung Điều 61 nguyên tắc xác định điều kiện thu nhập theo tiêu chí khách quan, dễ kiểm chứng, có thể gắn với mức thu nhập chưa phải nộp thuế thu nhập cá nhân hoặc thu nhập bình quân theo vùng. Chính phủ quy định mức cụ thể và định kỳ điều chỉnh phù hợp với tiền lương, giá cả của từng thời kỳ.
Thứ hai, nhà ở xã hội phải được bố trí đúng chỗ. Khoản 2 Điều 25 cho phép thực hiện nghĩa vụ về nhà ở xã hội bằng 3 phương án: dành đất trong dự án nhà ở thương mại, bố trí đất ở vị trí khác hoặc đóng tiền tương đương. Sự linh hoạt là cần thiết, nhưng nếu thiếu ràng buộc, phương án đóng tiền có thể được lựa chọn vì thuận lợi cho chủ đầu tư, còn nhà ở xã hội lại bị dồn ra xa nơi làm việc và các dịch vụ thiết yếu. Đề nghị sửa khoản 2 Điều 25 theo hướng ưu tiên bố trí quỹ đất nhà ở xã hội ngay trong dự án, nếu không khả thi thì bố trí tại khu vực lân cận có hạ tầng và khả năng tiếp cận việc làm. Chỉ được đóng tiền khi cả 2 phương án trên không thể thực hiện và phải giải thích rõ lý do, khoản tiền thu được phải hạch toán riêng vào quỹ nhà ở gắn với dự án, địa điểm, tiến độ cụ thể và được công khai kết quả sử dụng hằng năm.
Thứ ba, phải xác định đúng giá và bảo vệ chặt chẽ người mua. Với người thu nhập thấp, chỉ 1 khoản chênh lệch nhỏ cũng có thể khiến họ mất khả năng tiếp cận nhà ở. Vì vậy, đề nghị bổ sung Điều 69 quy định "chủ đầu tư phải công khai đầy đủ cơ cấu giá trước khi ký hợp đồng; sau khi dự án hoàn thành chi phí thực tế phải được quyết toán, hậu kiểm, nếu giá quyết toán thấp hơn giá đã thu thì phải hoàn trả hoặc khấu trừ phần chênh lệch cho người mua, người thuê mua", đồng thời xử lý nghiêm hành vi kê khai, phân bổ chi phí không đúng nhằm đẩy giá lên cao.
Thước đo của chính sách nhà ở xã hội không chỉ là số dự án được phê duyệt hay số căn hộ được xây dựng mà quan trọng hơn là người dân có thực sự mua được, thuê được và an cư lâu dài được hay không; Nhà nước có thể đơn giản hóa thủ tục nhưng không thể giảm trách nhiệm; luật phải bảo đảm nhà ở xã hội đúng người, đúng chỗ, đúng giá và không để người dân gánh chịu rủi ro. Có như vậy mục tiêu mọi người đều có chỗ ở sẽ không dừng lại ở những con số mà trở thành những mái ấm hiện hữu trong đời sống của Nhân dân.
ĐBQH Trường Trung Tuyến (Gia Lai):
Cần tính đến mức độ thiếu hụt thực tế về nhà ở
Tôi đề nghị hoàn thiện chính sách nhà ở cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo ở nông thôn, miền núi theo hướng hỗ trợ thực chất, linh hoạt và phù hợp với đặc thù từng vùng.

Tôi đánh giá cao việc dự thảo Luật lần này đã dành nhiều quy định tương đối cụ thể cho nhóm đối tượng ở khu vực nông thôn. Tuy nhiên, từ thực tiễn ở miền núi, tôi đề nghị nghiên cứu thêm 3 điểm: Một là, không nên chỉ xác định đối tượng theo chuẩn nghèo mà cần tính đến mức độ thiếu hụt thực tế về nhà ở. Có những hộ vừa thoát nghèo, hộ đông người, hộ người cao tuổi, hộ khuyết tật và hộ ở vùng thường xuyên chịu thiên tai có nhu cầu cấp thiết hơn. Vì vậy, cần xây dựng tiêu chí ưu tiên dựa trên mức độ an toàn và chất lượng thực tế của nhà ở.
Hai là mức hỗ trợ cần tính đến chênh lệch chi phí xây dựng theo từng vùng. Cùng một căn nhà nhưng ở miền núi, địa bàn trung tâm, địa bàn xa trung tâm, chi phí vận chuyển vật liệu, nhân công và san nền có thể cao hơn khu vực thuận lợi. Nếu áp dụng một định mức bình quân thì có nơi đủ xây dựng nhưng có nơi người nghèo không đủ khả năng đối ứng.
Ba là, nhà ở phải phù hợp với văn hóa, phong tục tập quán, phương thức sinh hoạt của từng dân tộc. Trong dự thảo Luật cũng đề ra nguyên tắc nhà ở nông thôn, miền núi phải phù hợp với chương trình nông thôn mới, phong tục, tập quán, nhưng theo tôi, nguyên tắc này cần cụ thể hóa trong chính sách hỗ trợ nhà ở, tránh tình trạng một mẫu nhà áp dụng đồng loạt cho nhiều địa bàn. Tôi đề nghị Chính phủ nghiên cứu theo hướng Trung ương quy định tiêu chuẩn an toàn và mức hỗ trợ tối thiểu, địa phương được điều chỉnh thiết kế, vật liệu, mức hỗ trợ bổ sung và cách thức tổ chức thực hiện phù hợp với điều kiện của từng vùng.

