Không thể mặc nhiên công nhận mọi thỏa thuận là hòa giải thành
Đó là đề nghị của ĐBQH Hoàng Thị Thu Trang (Nghệ An) tại phiên thảo luận Tổ 7 sáng 5/8 về dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi). Đại biểu đồng thời đề nghị phân định rõ cơ chế bầu, chỉ định hòa giải viên; bỏ điều kiện chưa phù hợp về “cư trú thường xuyên” và bảo đảm nguồn lực để hoạt động hòa giải ở cơ sở phát huy hiệu quả.
Phân định rõ việc bầu, chỉ định và điều kiện hòa giải thành
Góp ý về dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi), ĐBQH Hoàng Thị Thu Trang bày tỏ phấn khởi khi dự thảo Luật bổ sung nhiều quy định mới, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho những người trực tiếp triển khai công tác hòa giải ở cơ sở.
Theo đại biểu, từ góc độ của người làm công tác tại cơ sở, việc ban hành Luật với những quy định cụ thể sẽ giúp hoạt động hòa giải ở cơ sở được quan tâm hơn và nâng cao vị thế trong thực tiễn.
.jpg)
Góp ý tại Điều 7 về tiêu chuẩn hòa giải viên, đại biểu cho biết: dự thảo vừa kế thừa, vừa bổ sung các quy định so với Luật năm 2013. Tuy nhiên, quy định yêu cầu hòa giải viên phải là người “cư trú thường xuyên” tại địa phương là chưa hợp lý.
Theo đại biểu, Luật Cư trú không có khái niệm “cư trú thường xuyên”, mà chỉ quy định về thường trú và tạm trú. Nếu giữ cách diễn đạt này sẽ gây khó khăn trong quá trình áp dụng.
Vì vậy, đại biểu đề nghị bỏ cụm từ “thường xuyên”, chỉ quy định hòa giải viên là người “cư trú tại địa phương”. Người đang cư trú tại địa phương, có hiểu biết pháp luật, có uy tín và khả năng hòa giải thì có thể được giới thiệu để bầu làm hòa giải viên, không nhất thiết phải đáp ứng điều kiện “cư trú thường xuyên”.
Về cơ chế bầu và chỉ định hòa giải viên, đại biểu đánh giá dự thảo đã bám sát thực tiễn khi ngoài hình thức bầu còn bổ sung hình thức chỉ định trong trường hợp không bầu được hòa giải viên... Tuy nhiên, đại biểu Hoàng Thị Thu Trang cho rằng: dự thảo chưa phân định rõ sự khác nhau giữa người được bầu và người được chỉ định.
Cụ thể, Điều 9 quy định các trường hợp chỉ định hòa giải viên, nhưng tại các quy định về quyết định của Chủ tịch UBND cấp xã, cả người được chỉ định và người được bầu đều được ghi nhận trong “quyết định công nhận hòa giải viên”.
Theo đại biểu, “chỉ định” và “công nhận” là hai trường hợp khác nhau. Chủ tịch UBND cấp xã ban hành quyết định công nhận kết quả bầu hòa giải viên; còn đối với người được chỉ định thì phải ban hành quyết định chỉ định.
Vì vậy, đại biểu đề nghị rà soát lại Điều 9 và Điều 10 theo hướng phân biệt rõ hai hình thức này. Trường hợp chỉ định thì văn bản được ban hành phải là quyết định chỉ định hòa giải viên, không phải quyết định công nhận hòa giải viên.
Đại biểu cũng đề nghị bổ sung quy định về điều kiện công nhận hòa giải thành.
Qua nghiên cứu Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, đại biểu Hoàng Thị Thu Trang cho biết: pháp luật đã quy định khá đầy đủ các điều kiện để công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án. Không phải mọi thỏa thuận giữa các bên đều được công nhận là hòa giải thành.
Chẳng hạn, kết quả hòa giải không được công nhận nếu người tham gia hòa giải không có đầy đủ năng lực hành vi dân sự; nội dung thỏa thuận vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội; hoặc thỏa thuận nhằm trốn tránh nghĩa vụ đối với Nhà nước, tổ chức, cá nhân khác. Theo đại biểu, đây là quy định đúng đắn và cần thiết... Trong khi đó, dự thảo Luật Hòa giải ở cơ sở chưa đặt ra các điều kiện để công nhận hòa giải thành.

Theo đại biểu, hòa giải ở cơ sở cũng cần có điều kiện để công nhận hòa giải thành, không thể mặc nhiên công nhận mọi thỏa thuận giữa các bên... Vì vậy, đại biểu đề nghị bổ sung một điều quy định về điều kiện công nhận hòa giải thành. Trong đó, cần nghiên cứu các điều kiện như: người tham gia hòa giải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự; nội dung thỏa thuận không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội; thỏa thuận không nhằm trốn tránh nghĩa vụ đối với Nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân khác.
Bảo đảm nguồn lực, gắn thù lao với kết quả hòa giải
Về kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở, đại biểu đánh giá cao việc dự thảo chuyển từ cơ chế Nhà nước “hỗ trợ” sang Nhà nước “bảo đảm” kinh phí. Theo đại biểu Hoàng Thị Thu Trang, việc Nhà nước bảo đảm kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở là cần thiết và là nội dung được những người trực tiếp thực hiện công tác này đặc biệt quan tâm.
Từ thực tiễn triển khai Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013, đại biểu cho biết, mặc dù Luật quy định cơ chế Nhà nước “hỗ trợ”, nhưng kinh phí quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở về cơ bản vẫn được Nhà nước bảo đảm.

Đối với kinh phí hoạt động của tổ hòa giải và hòa giải viên, theo báo cáo tổng kết của Bộ Tư pháp và thực tiễn tại các địa phương, nguồn kinh phí này cơ bản cũng đã được quan tâm, bố trí; trong khi chưa ghi nhận kết quả đáng kể từ việc xã hội hóa kinh phí cho hoạt động hòa giải ở cơ sở.
Thông tư liên tịch số 100/2014/TTLT-BTC-BTP quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở; Thông tư số 56/2023/TT-BTC quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, chuẩn tiếp cận pháp luật và hòa giải ở cơ sở cũng đã thể hiện cơ chế bảo đảm kinh phí cho hoạt động này.
Lý giải thêm về đề xuất, đại biểu cho rằng: việc Nhà nước bảo đảm kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở phù hợp với quan điểm, tinh thần của Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 28/7/2026 về xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển.
Nghị quyết xác định yêu cầu tăng cường các giải pháp phòng ngừa, giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp ngay từ cơ sở; xây dựng môi trường xã hội ổn định, an toàn và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân. Hòa giải ở cơ sở chính là một thiết chế quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu đó.
Việc bảo đảm kinh phí cũng phù hợp với Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam, trong đó nhấn mạnh yêu cầu đổi mới phương thức quản trị quốc gia, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và phát huy vai trò của các thiết chế xã hội trong quản trị cộng đồng.
Theo đại biểu, đầu tư cho công tác hòa giải ở cơ sở không chỉ góp phần giải quyết hiệu quả các mâu thuẫn, tranh chấp ngay từ cơ sở mà còn giúp giảm chi phí xã hội, giảm áp lực đối với các cơ quan hành chính, cơ quan tư pháp, tạo môi trường ổn định để phát triển kinh tế - xã hội.
Bên cạnh đó, các cơ chế hòa giải khác như hòa giải, đối thoại tại Tòa án và hòa giải hành chính đều đã được Nhà nước bảo đảm kinh phí hoạt động... Đây cũng là một trong những căn cứ để cân nhắc bảo đảm kinh phí cho hòa giải ở cơ sở, thay vì chỉ dừng lại ở cơ chế hỗ trợ.
“Nếu pháp luật thiết lập cơ chế hòa giải ở cơ sở nhưng không bảo đảm nguồn lực để vận hành, trong khi việc xã hội hóa không thực hiện được, thì hoạt động này sẽ khó phát huy hiệu quả”, ĐBQH Hoàng Thị Thu Trang nhấn mạnh.
Theo hướng đó, đại biểu đề nghị dự thảo Luật quy định rõ việc giao Chính phủ quy định cơ chế kinh phí. Chính phủ quy định khung và mức sàn tối thiểu; trên cơ sở đó, giao HĐND cấp tỉnh quy định mức cụ thể, phù hợp với khả năng cân đối ngân sách của từng địa phương.
Đại biểu cũng đề nghị bổ sung nguyên tắc ưu tiên chi trả thù lao đối với những vụ việc hòa giải thành, qua đó gắn cơ chế chi với kết quả đầu ra và hiệu quả của hoạt động hòa giải.
Theo đại biểu Hoàng Thị Thu Trang, việc ưu tiên thù lao đối với những vụ việc hòa giải thành là phù hợp, bởi hòa giải thành sẽ góp phần hạn chế phát sinh khiếu kiện, giữ gìn tình làng, nghĩa xóm, bảo đảm an ninh, trật tự và củng cố đoàn kết trong cộng đồng dân cư.

