Ý kiến đại biểu

Không để trẻ em phải rời gia đình gốc khi vẫn còn cơ hội đoàn tụ

Đào Cảnh • 19/10/2026 11:44

Thảo luận tại Tổ 13 (Đoàn ĐBQH các tỉnh Thanh Hóa, Gia Lai) về dự án Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi), ĐBQH Phan Thị Thùy Linh nhấn mạnh, việc sửa đổi Luật phải thực sự lấy trẻ em làm trung tâm, bảo đảm nuôi con nuôi chỉ được lựa chọn khi đó là phương án tốt nhất cho trẻ. Đại biểu đề nghị làm rõ tiêu chí xác định lợi ích tốt nhất của trẻ em, ưu tiên khả năng đoàn tụ gia đình gốc; đồng thời, siết chặt quy trình ghép trẻ, kiểm soát nguy cơ trục lợi và tăng cường giám sát sau nhận nuôi.

Ưu tiên bảo vệ quyền được sống trong gia đình gốc của trẻ em

Tán thành sự cần thiết sửa đổi toàn diện Luật Nuôi con nuôi năm 2010, ĐBQH Phan Thị Thùy Linh (Thanh Hóa) cho rằng, sau 15 năm thi hành, Luật hiện hành đã góp phần đưa hoạt động nuôi con nuôi vào khuôn khổ pháp lý, song vẫn bộc lộ những khoảng trống cần được khắc phục.

ĐBQH Phan Thị Thùy Linh (Thanh Hóa) phát biểu thảo luận tổ
ĐBQH Phan Thị Thùy Linh (Thanh Hóa) phát biểu thảo luận tổ. Ảnh: An Nhiên

Trong đó, tiêu chí xác định một đứa trẻ có cần được nhận nuôi hay không chưa rõ ràng; việc ghép trẻ phần lớn do người nhận nuôi tự tìm, tiềm ẩn nguy cơ thỏa thuận ngầm, môi giới; công tác theo dõi, giám sát sau khi trẻ được nhận nuôi còn hạn chế. Dự thảo Luật lần này đã hướng đến giải quyết những bất cập nêu trên.

Theo đại biểu, điểm tiến bộ quan trọng của dự thảo là chuyển từ tư duy tạo điều kiện cho việc nhận con nuôi sang bảo đảm nuôi con nuôi chỉ được thực hiện khi đó là phương án tốt nhất cho trẻ và không còn giải pháp phù hợp trong gia đình gốc. Đây là bước chuyển cần thiết, phù hợp với chủ trương đưa trẻ em từ các cơ sở nuôi dưỡng tập trung về với môi trường gia đình.

Đại biểu nhấn mạnh, thước đo thành công của Luật không phải là số trẻ được nhận nuôi tăng lên, mà là không có trẻ em nào phải rời gia đình gốc khi vẫn còn cơ hội ở lại và không có trẻ em nào bị bỏ quên sau khi đã được nhận nuôi.

Toàn cảnh phiên thảo luận tại Tổ 13. Ảnh: An Nhiên
Toàn cảnh phiên thảo luận tại Tổ 13. Ảnh: An Nhiên

Góp ý cụ thể, đại biểu chỉ ra sự thiếu thống nhất giữa Điều 4 và Điều 10 của dự thảo. Trong khi Điều 4 xác định chỉ giải quyết nuôi con nuôi khi không thể giữ trẻ trong gia đình gốc, Điều 10 lại giao cơ sở trợ giúp xã hội chuyển đổi hình thức chăm sóc thay thế sang nuôi con nuôi. Quy định này có thể dẫn đến cách hiểu rằng đối với trẻ đang được chăm sóc tại cơ sở trợ giúp xã hội, nuôi con nuôi mặc nhiên trở thành phương án ưu tiên.

Trong khi đó, Điều 61 Luật Trẻ em quy định nuôi con nuôi chỉ là một trong bốn hình thức chăm sóc thay thế, bên cạnh chăm sóc bởi người thân thích, gia đình không thân thích và tại cơ sở trợ giúp xã hội.

Đại biểu cho rằng, mục tiêu hạn chế tình trạng trẻ em phải sống tập trung lâu dài là đúng đắn, nhưng phương thức thực hiện phải bảo đảm quyền và lợi ích tốt nhất của trẻ.

“Cách đi phải là tìm cho trẻ con đường ngắn nhất trở về gia đình, chứ không phải con đường ngắn nhất ra khỏi cơ sở”, đại biểu nhấn mạnh.

Từ đó, đại biểu đề nghị chỉnh lý Điều 10 theo hướng cơ sở trợ giúp xã hội phải đánh giá hoàn cảnh của từng trẻ, tìm kiếm khả năng đoàn tụ với gia đình gốc hoặc người thân thích trước khi đề xuất phương án nuôi con nuôi. Đồng thời, rà soát Điều 12 để bảo đảm thống nhất với Điều 62 Luật Trẻ em.

Các ĐBQH tỉnh Thanh Hóa tham dự thảo luận tổ. Ảnh: An Nhiên
Các ĐBQH tỉnh Thanh Hóa tham dự thảo luận tổ. Ảnh: An Nhiên

Đặc biệt, hai khái niệm “lợi ích tốt nhất của trẻ em” và “hoàn cảnh đặc biệt” cần được xác định bằng những tiêu chí cụ thể ngay trong Luật, bởi đây là căn cứ quan trọng quyết định việc trẻ có được giải quyết cho làm con nuôi hay không.

Nếu thiếu tiêu chí thống nhất, mỗi địa phương có thể áp dụng theo cách khác nhau. Việc hiểu quá hẹp sẽ bỏ sót trẻ em cần được bảo vệ, trong khi cách hiểu quá rộng có thể dẫn đến việc tách trẻ khỏi gia đình khi chưa thực sự cần thiết.

Vì vậy, đại biểu kiến nghị quy định các tiêu chí cốt lõi ngay trong Luật, có sự tham gia đánh giá của người làm công tác xã hội; những nội dung cụ thể hơn giao Chính phủ hướng dẫn.

Siết chặt quy trình ghép trẻ, ngăn chặn trục lợi và bảo đảm giám sát sau nhận nuôi

Quan tâm đến quy trình ghép trẻ và điều kiện của người nhận nuôi, ĐBQH Phan Thị Thùy Linh đánh giá cao quy định chuyển từ việc để người nhận nuôi tự tìm trẻ sang cơ quan có thẩm quyền chủ động thực hiện ghép trẻ.

Theo đại biểu, đây là một trong những thay đổi cốt lõi của dự thảo, góp phần ngăn chặn từ gốc nguy cơ thỏa thuận ngầm, môi giới, mua bán trẻ em dưới hình thức nuôi con nuôi.

ĐBQH Phan Thị Thùy Linh (Thanh Hóa) phát biểu thảo luận tổ
ĐBQH Phan Thị Thùy Linh (Thanh Hóa) phát biểu thảo luận tổ. Ảnh: An Nhiên

Tuy nhiên, ghép trẻ là nghiệp vụ đòi hỏi chuyên môn cao, cần đánh giá đầy đủ cả hoàn cảnh, nhu cầu của trẻ và điều kiện của gia đình nhận nuôi. Trong bối cảnh chính quyền cấp xã sau sắp xếp đang đảm nhận nhiều nhiệm vụ mới, nếu thiếu hướng dẫn, đào tạo và giám sát, quá trình thực hiện có thể phát sinh chậm trễ hoặc những tiêu cực mới.

Đại biểu đề nghị bổ sung vào Luật quy trình ghép trẻ, quyền khiếu nại khi không được ghép, trách nhiệm hướng dẫn, đào tạo của Bộ Tư pháp và lộ trình chuẩn bị năng lực thực hiện cho cấp xã.

Các ĐBQH tỉnh Gia Lai tham dự thảo luận tổ. Ảnh: An Nhiên
Các ĐBQH tỉnh Gia Lai tham dự thảo luận tổ. Ảnh: An Nhiên

Đối với các trường hợp bị cấm nhận con nuôi do đã bị kết án quy định tại Điều 13, đại biểu kiến nghị rà soát với dự thảo Bộ luật Hình sự trình cùng kỳ họp. Theo đó, không nên áp dụng lệnh cấm tuyệt đối đối với mọi trường hợp phạm tội do vô ý; ngược lại, cần quy định cấm vĩnh viễn đối với người phạm tội xâm hại trẻ em, mua bán người.

Một vấn đề khác được đại biểu đặc biệt lưu ý là cơ chế tài chính trong hoạt động nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.

Khoản 3 Điều 11 dự thảo cho phép người nhận nuôi nước ngoài nộp khoản bù đắp chi phí nuôi dưỡng và “thù lao hợp lý cho nhân viên của cơ sở”. Theo đại biểu, mục đích bổ sung nguồn lực cho cơ sở nuôi dưỡng là chính đáng, nhưng nếu cho phép chi trả thù lao mà không có cơ chế kiểm soát chặt chẽ thì có thể bị lợi dụng để hợp thức hóa hoạt động môi giới, mua bán trẻ em dưới danh nghĩa đóng góp.

Đại biểu cảnh báo, khoản thù lao này có nguy cơ bị biến tướng thành khoản tiền trao đổi để nhận được một đứa trẻ.

Vì vậy, đại biểu đề nghị bỏ quy định về thù lao cho nhân viên cơ sở; đối với khoản bù đắp chi phí, giao Chính phủ quy định định mức, thực hiện nộp qua tài khoản của cơ sở và bảo đảm đầy đủ chứng từ, công khai, thanh tra, kiểm tra.

Cùng với đó, cần nghiêm cấm các hành vi môi giới, quảng cáo, kết nối nhận con nuôi trên mạng xã hội và nền tảng điện tử, gắn với chế tài đủ sức răn đe. Đại biểu cũng đề xuất cho phép yêu cầu giám định ADN khi có nghi ngờ về nguồn gốc trẻ hoặc quan hệ thân thích.

Các ĐBQH tỉnh Gia Lai tham dự thảo luận tổ
Các ĐBQH tỉnh Gia Lai tham dự thảo luận tổ. Ảnh: An Nhiên

Liên quan đến công tác theo dõi sau nhận nuôi, đại biểu cho rằng, quy định báo cáo định kỳ 6 tháng một lần trong 3 năm và huy động người làm công tác xã hội tham gia giám sát là hướng đi phù hợp. Tuy nhiên, dự thảo cần làm rõ cơ quan chịu trách nhiệm thẩm định báo cáo, cơ chế can thiệp khi phát hiện trẻ bị bạo lực, bỏ rơi, suy dinh dưỡng và phương thức theo dõi đối với trường hợp nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.

Thay vì hình thành thêm một hệ thống giám sát riêng, đại biểu đề xuất tận dụng mạng lưới cộng tác viên công tác xã hội ở cơ sở đã có nền tảng pháp lý từ năm 2024.

Đồng thời, cần xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về nuôi con nuôi, bảo đảm liên thông với dữ liệu hộ tịch, dân cư và trẻ em. Đây không chỉ là công cụ phòng ngừa trùng lặp, tiêu cực mà còn tạo cơ sở thực hiện quyền được biết về nguồn gốc của con nuôi khi đủ tuổi.

Về kỹ thuật lập pháp, đại biểu lưu ý dự thảo lược bỏ 29 điều nhưng có tới 16 trong tổng số 30 nội dung giao Chính phủ quy định chi tiết. Đối với một đạo luật trực tiếp liên quan đến quyền trẻ em, những quy định cốt lõi về điều kiện nhận nuôi, trình tự ghép trẻ, căn cứ chấm dứt, hủy bỏ, thu hồi quyết định nuôi con nuôi cần được thể hiện ngay trong Luật, thay vì phụ thuộc quá nhiều vào văn bản dưới luật.

Đối với Điều 26 quy định chấm dứt việc nuôi con nuôi khi cha mẹ nuôi chết hoặc mất năng lực hành vi, đại biểu cơ bản đồng tình nhưng đề nghị cân nhắc kỹ hệ quả đối với quyền thừa kế của con nuôi, tránh để việc chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi ảnh hưởng đến những quyền lợi đã hình thành của trẻ.

Bên cạnh đó, đại biểu tán thành việc xác định rõ Bộ Tư pháp là cơ quan trung ương theo Công ước La Hay năm 1993 và vai trò của Bộ Công an trong phòng, chống mua bán trẻ em; đồng thời đề nghị rà soát tính thống nhất giữa dự thảo với Luật Trẻ em, Bộ luật Dân sự, Luật Hộ tịch, Luật Quốc tịch và dự thảo Bộ luật Hình sự, bổ sung quy định chuyển tiếp đối với những hồ sơ đang được giải quyết.

Nhấn mạnh dự án Luật được trình xem xét, thông qua theo quy trình một kỳ họp, ĐBQH Phan Thị Thùy Linh đề nghị Chính phủ tập trung hoàn thiện ngay ba nội dung quan trọng: lượng hóa tiêu chí xác định lợi ích tốt nhất của trẻ em và hoàn cảnh đặc biệt; chuẩn bị nguồn lực đào tạo cho cấp xã, mạng lưới công tác xã hội; xây dựng cơ sở dữ liệu liên thông về nuôi con nuôi.

Theo đại biểu, chỉ khi những tiêu chí, quy trình và điều kiện tổ chức thực hiện được quy định đầy đủ, rõ ràng, Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi) mới thực sự trở thành khuôn khổ pháp lý bảo đảm mọi quyết định nuôi con nuôi đều xuất phát từ lợi ích tốt nhất của trẻ em.

    Không để trẻ em phải rời gia đình gốc khi vẫn còn cơ hội đoàn tụ
    • Mặc định