Không để “khoảng trống pháp lý”
Theo Báo cáo tổng hợp kết quả giám sát văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 của Ủy ban Dân nguyện và Giám sát, các cơ quan chức năng đã có nhiều nỗ lực trong việc tổ chức triển khai xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, đưa các quy định của luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội kịp thời đi vào cuộc sống.
Chất lượng ban hành văn bản quy phạm pháp luật tiếp tục được nâng cao, cơ bản bảo đảm đúng thẩm quyền, tính hợp pháp, thống nhất của văn bản trong hệ thống pháp luật. Công tác phối hợp, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số được tăng cường góp phần rút ngắn thời gian soạn thảo, nâng cao tính công khai, minh bạch trong quá trình xây dựng.
Dù vậy, vẫn còn tới 173 văn bản ban hành chậm hơn thời điểm có hiệu lực thi hành theo quy định của luật, pháp lệnh, nghị quyết. Trong đó, có một số văn bản chậm từ 6 tháng đến 2 năm; 47 điều, khoản được giao quy định chi tiết của 20 luật, 2 pháp lệnh, 1 nghị quyết chưa được ban hành. Đặc biệt, nhiều luật đã có hiệu lực nhưng còn nợ phần lớn văn bản quy định chi tiết.
Bên cạnh đó, còn có trường hợp cơ quan có thẩm quyền không kịp thời rà soát, công bố các văn bản quy định chi tiết tiếp tục có hiệu lực sau khi luật, pháp lệnh, nghị quyết đã được sửa đổi, bổ sung theo quy định dẫn tới các văn bản quy định chi tiết mặc dù còn phù hợp nhưng lại hết hiệu lực, không được áp dụng...
Việc thực hiện kiến nghị giám sát hoặc báo cáo, đề xuất, cung cấp thông tin liên quan đến các kiến nghị giám sát cũng chưa được chú trọng đúng mức. Nhiều kiến nghị giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban kéo dài qua nhiều năm nhưng chưa được thực hiện hoặc báo cáo, xử lý dứt điểm.
Về khách quan, nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do trong năm 2025, các luật chủ yếu thông qua tại 1 kỳ họp, có hiệu lực ngay hoặc chỉ một thời gian ngắn sau khi được Quốc hội thông qua nên khối lượng văn bản quy phạm pháp luật phải ban hành để quy định chi tiết rất lớn. Nhiều văn bản yêu cầu tiến độ gấp, có nội dung phức tạp, bao trùm nhiều lĩnh vực nên các cơ quan gặp khó khăn trong quá trình tổ chức thực hiện.
Nguyên nhân nữa là do công tác phối hợp trong xây dựng văn bản, xin ý kiến và tham gia ý kiến chưa bảo đảm thời hạn yêu cầu. Một số nội dung khó, phức tạp, phạm vi đối tượng áp dụng rộng nên cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy định chi tiết chưa dự liệu hết các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng, tiến độ thực hiện dẫn đến tình trạng chậm, nợ ban hành văn bản quy định chi tiết.
Nguyên nhân chủ quan là do cơ quan chủ trì soạn thảo thiếu chủ động, chưa chú trọng đúng mức và chưa phát huy đầy đủ vai trò, trách nhiệm của các tổ chức pháp chế, chuyên gia trong việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các luật, pháp lệnh, nghị quyết. Năng lực, trình độ của một bộ phận cán bộ thực hiện hoặc tham gia công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật còn hạn chế, chưa theo kịp với tư duy xây dựng pháp luật theo tinh thần của Nghị quyết số 66-NQ/TW và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật…
Theo dự kiến, chỉ riêng từ nay đến cuối năm 2026, có tới 62 dự án luật, nghị quyết đang được các bộ, cơ quan nghiên cứu, chuẩn bị trình Quốc hội xem xét, thông qua. Đây là khối lượng công việc rất lớn. Tuy nhiên, như ý kiến của Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu, không vì sức ép tiến độ mà hạ thấp yêu cầu về chất lượng chính sách, tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất và khả thi của hệ thống pháp luật.
Đối với tình trạng chậm, nợ ban hành văn bản quy định chi tiết, Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu nhấn mạnh, đây là vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu lực thi hành pháp luật, kỷ luật hành chính cũng như môi trường đầu tư, kinh doanh. Vì vậy, các bộ, cơ quan ngang bộ phải xác định việc xây dựng, trình và ban hành văn bản quy định chi tiết là nhiệm vụ ưu tiên cao nhất, không để tiếp tục kéo dài “khoảng trống pháp lý”.

