Diễn đàn Quốc hội

Hoàn thiện thể chế phát triển quốc gia biển mạnh

Nhật An • 30/09/2026 17:46

Trước yêu cầu phát triển mới, việc sửa đổi toàn diện Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo là cần thiết nhằm thể chế hóa các chủ trương, quan điểm mới của Đảng về xây dựng mô hình quản trị biển hiện đại, triển khai Quy hoạch không gian biển quốc gia, phát triển các ngành kinh tế biển mới, kinh tế biển xanh, chuyển đổi số. Tuy nhiên, một số đại biểu Quốc hội (ĐBQH) hoạt động chuyên trách cũng nhấn mạnh yêu cầu rà soát, làm rõ một số nội dung của dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) để bảo đảm thống nhất trong hệ thống pháp luật.

Đoàn chủ trì Hội nghị
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và các Phó Chủ tịch Quốc hội tại Hội nghị đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách lần thứ Nhất. Ảnh: Hồ Long

Bảo đảm đồng bộ, thống nhất, khả thi trong tổ chức thực hiện

Các nội dung sửa đổi, hoàn thiện và bổ sung của dự thảo Luật tập trung vào chuyển mạnh từ quản lý theo ngành sang quản trị hiện đại, tổng hợp, thống nhất không gian biển quốc gia, hoàn thiện thể chế phát triển quốc gia biển mạnh; tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực biển; đồng thời bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích quốc gia trên biển.

Tại Hội nghị đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách lần thứ Nhất, nhiệm kỳ khóa XVI, các đại biểu cho rằng, các nội dung dự thảo Luật cơ bản bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật. Tuy nhiên, dự thảo Luật điều chỉnh nhiều quan hệ liên quan đến quản lý không gian biển, quyền sử dụng khu vực biển, công trình trên biển, vùng bờ và bảo vệ môi trường liên quan trực tiếp với các luật chuyên ngành khác nên một số nội dung trong dự thảo Luật cần được rà soát, làm rõ để bảo đảm thống nhất.

ĐBQH Nguyễn Thị Thu Nguyệt (Đắk Lắk) cơ bản thống nhất với Tờ trình dự án Luật và nội dung dự thảo Luật. Tuy nhiên, đại biểu đề nghị, cơ quan soạn thảo tiếp tục rà soát, chỉnh lý để bảo đảm tính thống nhất về bản chất pháp lý cũng như cơ chế tài chính đối với các hình thức sử dụng khu vực biển được quy định trong dự thảo Luật.

ĐBQH Nguyễn Thị Thu Nguyệt (Đắk Lắk)
ĐBQH Nguyễn Thị Thu Nguyệt (Đắk Lắk) phát biểu tại hội nghị. Ảnh: Hồ Long

Khoản 1, Điều 24 dự thảo Luật quy định nhà nước xác lập ghi nhận quyền sử dụng khu vực biển bằng ba hình thức: giao khu vực biển, cho thuê khu vực biển và xác nhận đăng ký sử dụng khu vực biển. Đại biểu Nguyễn Thị Thu Nguyệt đề nghị, cơ quan soạn thảo nên tách bạch về cơ chế tài chính đối với ba hình thức giao, cho thuê và đăng ký sử dụng khu vực biển. Cần làm rõ đối với trường hợp đăng ký sử dụng khu vực biển thì căn cứ nào làm phát sinh nghĩa vụ nộp tiền, căn cứ tính tiền, thời điểm phát sinh nghĩa vụ và hình thức nộp tiền? Theo đại biểu, có thể nghiên cứu chỉnh lý khoản 4, Điều 32 dự thảo Luật theo hướng quy định riêng hình thức nộp tiền đối với trường hợp được cho thuê khu vực biển và trường hợp đăng ký sử dụng khu vực biển thay vì quy định chung trong cùng một điểm như dự thảo hiện nay.

Cùng với đó, đại biểu Nguyễn Thị Thu Nguyệt đề nghị, rà soát khoản 1 và khoản 2 của Điều 32 để bảo đảm thống nhất với khoản 4, Điều 32 và khoản 1, Điều 24. Đại biểu nhấn mạnh, việc chỉnh lý lần này nhằm tránh áp dụng cùng một cơ chế tài chính cho những hình thức có nội hàm bản chất pháp lý khác nhau đã được nêu rõ trong dự thảo luật. Đồng thời, bảo đảm tính minh bạch, dễ thực hiện và tránh phát sinh cách hiểu khác nhau trong quá trình áp dụng.

Về quyền và nghĩa vụ của tổ chức cá nhân, tại khoản 6, khoản 7 và khoản 9 của Điều 33, dự thảo Luật quy định các vấn đề liên quan đến thủ tục hành chính, hệ quả pháp lý khi chuyển nhượng dự án chia tách doanh nghiệp, ký quỹ bảo đảm, quản lý dữ liệu biên giới... Đại biểu Nguyễn Thị Thu Nguyệt cho rằng, các nội dung quy định tại điều này thiên về quản lý nhà nước hoặc hệ quả pháp lý khi chuyển nhượng chứ không thuần tuý quy định về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân. Do vậy, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo chỉnh lý lại về mặt kỹ thuật lập pháp cho phù hợp.

Cùng với đó, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo rà soát điểm c, khoản 6, Điều 33 dự thảo Luật để thống nhất với khoản 4, Điều 34 dự thảo Luật. Bởi lẽ, tại điểm c khoản 6 điều 33 quy định trường hợp giao dịch làm thay đổi chủ sở hữu hưởng lợi, quyền chi phối, quyền kiểm soát doanh nghiệp hoặc thay đổi tỷ lệ sở hữu của nhà nước đầu tư nước ngoài chỉ được thực hiện sau khi có ý kiến đồng ý bằng văn bản của các cơ quan quốc phòng - an ninh, ngoại giao.

Tuy nhiên, quy định tiếp theo yêu cầu mọi trường hợp làm thay đổi chủ sở hữu hưởng lợi, quyền chi phối, quyền kiểm soát doanh nghiệp hoặc thay đổi tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài đều phải có ý kiến đồng ý bằng văn bản của cơ quan quốc phòng - an ninh, ngoại giao. Theo đại biểu, quy định này rất rộng, có thể làm phát sinh thêm nhiều thủ tục chồng lấn với khoản 4, Điều 34. Nêu ra điểm bất hợp lý này, đại biểu Nguyễn Thị Thu Nguyệt đề nghị, chỉ áp dụng một cơ chế kiểm soát đặc biệt đối với giao dịch thuộc khu vực, lĩnh vực có nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến quốc phòng - an ninh, đối ngoại, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích quốc gia trên biển hoặc các trường hợp pháp luật về đầu tư quy định phải kiểm soát. Đại biểu cũng đề nghị, cơ quan soạn thảo làm rõ tiêu chí về chủ sở hữu, hưởng lợi quyền chi phối, quyền kiểm soát để bảo đảm minh bạch, khả thi trong tổ chức thực hiện.

Thiết kế chính sách ưu đãi theo mức ưu tiên

Ở góc nhìn khác, ĐBQH Nguyễn Minh Tâm (Quảng Trị) cho rằng, đối với rất nhiều người dân sống ven biển, biển không chỉ là không gian phát triển du lịch, dịch vụ mà còn là nơi mưu sinh, neo đậu tàu thuyền, khai thác thủy sản và sinh hoạt của cộng đồng.

ĐBQH Nguyễn Minh Tâm (Quảng Trị)
ĐBQH Nguyễn Minh Tâm (Quảng Trị) phát biểu. Ảnh: Hồ Long

Vì vậy, đại biểu Nguyễn Thị Minh Tâm đồng tình với việc dự thảo Luật đưa quyền tiếp cận biển của người dân thành một nội dung được quy định trong luật. Tuy nhiên, đại biểu cũng cho rằng, quyền tiếp cận biển của người dân còn liên quan đến nhiều loại quy hoạch, dự án và quyền sử dụng đất, khu vực biển. Do đó, cần quy định rõ để bảo đảm quyền tiếp cận của người dân; đồng thời, bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tế của từng khu vực, tránh quy định cứng trong luật dẫn tới khó thực hiện.

Đại biểu Nguyễn Minh Tâm cho rằng, việc dự thảo Luật quy định quy hoạch, dự án và việc giao, cho thuê khu vực biển phải bảo đảm lối tiếp cận biển công cộng; tổ chức, cá nhân không được cản trở quyền tiếp cận này là định hướng đúng, song cần cụ thể hơn để sau này chính quyền địa phương có căn cứ kiểm tra và xử lý.

Phó Trưởng đoàn ĐBQH chuyên trách tỉnh Đắk Lắk Lê Đào An Xuân phát biểu
ĐBQH Lê Đào An Xuân (Đắk Lắk) phát biểu. Ảnh: Phạm Thắng

Cũng quan tâm đến quyền lợi của người dân, ĐBQH Lê Đào An Xuân (Đắk Lắk) tán thành với dự thảo Luật bổ sung nhóm chính sách ưu đãi hỗ trợ phát triển các hoạt động kinh tế trên biển và hải đảo. Song, đại biểu cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của chính sách hỗ trợ các địa phương nâng cao năng lực thu hút đầu tư biển và hỗ trợ người dân phải chuyển đổi nghề, chuyển đổi sinh kế do yêu cầu bảo vệ nguồn lợi, bảo vệ môi trường và tổ chức lại không gian biển.

Đại biểu Lê Đào An Xuân đề nghị, cần thiết kế chính sách ưu đãi theo mức ưu tiên, tránh tình trạng nhiều đối tượng cùng được hưởng ở mức cao nhất. Bên cạnh đó, đại biểu Lê Đào An Xuân nhận thấy, dự thảo Luật hiện tổng hợp khá nhiều ưu đãi từ các dự thảo luật khác. Trong đó, nhiều nội dung trùng lặp lại với các chính sách ưu đãi được nêu tại Luật Bảo vệ môi trường, Luật Đầu tư, Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo… Do vậy, đại biểu đề nghị, các chính sách ưu đãi về thuế đất đai, đầu tư, tín dụng, đối tác công - tư, khoa học - công nghệ nên được thực hiện theo luật chuyên ngành. Luật này chỉ quy định các chính sách gắn với sử dụng không gian biển, tiền sử dụng biển, hạ tầng biển dùng chung, địa bàn biển khó thu hút đầu tư, chuyển đổi sinh kế cộng đồng và bảo vệ phục hồi hệ sinh thái biển.

    Hoàn thiện thể chế phát triển quốc gia biển mạnh
    • Mặc định