Hoàn thiện pháp luật trên cơ sở bảo đảm tính thống nhất và khả thi
Chiều 6/8, tiếp tục chương trình kỳ họp, tại Tổ 10 (Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Bình, Sơn La), các đại biểu đã cho ý kiến về quản lý kiến trúc, đánh giá hiệu quả hoạt động tư pháp đến phòng, chống rửa tiền đối với tài sản mã hóa. Các đại biểu đều đề nghị, quy định cụ thể hơn, tăng tính khả thi của chính sách và bảo đảm sự thống nhất trong áp dụng pháp luật trên phạm vi cả nước.
.jpg)
Quy định rõ hơn hơn tiêu chí nhận diện bản sắc văn hóa trong kiến trúc
Tán thành với sự cần thiết ban hành sửa đổi, bổ sung dự án Luật Kiến trúc, ĐBQH Phạm Hùng Thắng (Ninh Bình) cho rằng, việc sửa đổi nhằm thể chế hóa đầy đủ chủ trương, đường lối của Đảng về tiếp tục hoàn thiện thể chế pháp luật, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực kiến trúc. Đồng thời đáp ứng các yêu cầu về phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn hiện nay; yêu cầu về phân định thẩm quyền, phân cấp, phân quyền phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp…

Góp ý một số nội dung cụ thể tại điểm 2 khoản 1 Điều 1 sửa đổi, thay thế Điều 5 về bản sắc văn hóa dân tộc trong kiến trúc, ĐBQH Phạm Hùng Thắng cho biết, quy định về bản sắc dân tộc trong kiến trúc trong dự thảo Luật đã đưa ra 3 yếu tố, nhưng quy định phản ánh sự đa dạng về kiến trúc truyền thống của cộng đồng dân tộc thiểu số cùng sinh sống trên địa bàn vẫn chưa rõ. Đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu bổ sung quy định yếu tố nhận diện kiến trúc truyền thống của cộng đồng dân tộc thiểu số ở trong trong dự thảo luật.
Tại điểm 3 khoản 1 Điều 1 về sửa đổi, thay thế Điều 5 về bản sắc dân tộc trong kiến trúc quy định: UBND các cấp có thẩm quyền lập, ban hành quy chế quản lý kiến trúc, chịu trách nhiệm xác định và cụ thể hóa về bản sắc văn hóa dân tộc trong kiến trúc của địa phương tại nội dung quy chế quản lý kiến trúc. Đại biểu Phạm Hùng Thắng phân tích, việc giao UBND các cấp sẽ được hiểu là UBND cấp tỉnh và UBND của cấp xã, như vậy sẽ dễ dẫn đến mỗi nơi làm một kiểu, không thống nhất, chia cắt không gian kiến trúc vùng và có thể gây khó khăn, vướng mắc nhất là cho cấp xã trong quá trình tổ chức thực hiện do kiến trúc là thuộc lĩnh vực chuyên môn sâu, có tính hệ thống và liên tục.

Do vậy, đại biểu đề nghị sửa đổi quy định này theo hướng giao UBND tỉnh ban hành bộ tiêu chí và khung hướng dẫn chung về bản sắc văn hóa dân tộc trong kiến trúc và làm cơ sở để cấp xã căn cứ theo các quy định khung này để triển khai thực hiện.
Đồng tình với quan điểm trên, ĐBQH Lò Việt Phương (Sơn La) cho rằng, việc xác định rõ các yếu tố nhận diện bản sắc khu vực, tuyến phố cần bảo tồn, đặc trưng không gian, chiều cao, vật liệu... đã khắc phục được những hạn chế mang tính định tính của Luật Kiến trúc hiện hành, giúp chính quyền địa phương thuận lợi hơn trong việc kiểm soát, thẩm định và cấp phép xây dựng. Tuy nhiên, dự thảo Luật giao UBND các cấp xác định cụ thể hóa tiêu chí bản sắc khi lập quy hoạch, quy chế quản lý kiến trúc có thể dẫn đến mỗi địa phương hiểu và áp dụng khác nhau, dẫn đến sự thiếu đồng bộ.

Đại biểu Lò Việt Phương đề nghị Cơ quan soạn thảo bổ sung quy định hoặc giao Chính phủ hướng dẫn, bảo đảm tính định hướng tiêu chí bản sắc được xác định khách quan, tránh tùy tiện và giữ được sự thống nhất trong quản lý nhà nước về kiến trúc trên toàn quốc.
Nên hay không nên quy định chỉ tiêu định lượng xét xử?
Cho ý kiến vào dự án Nghị quyết của Quốc hội về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án (Nghị quyết của Quốc hội thay thế Nghị quyết số 96/2019/QH14 của Quốc hội về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án), Chủ nhiệm Ủy ban Dân nguyện và Giám sát, ĐBQH Lê Thị Nga (Ninh Bình) khẳng định: dự thảo Nghị quyết thay thế Nghị quyết số 96 đã được nghiên cứu và điều chỉnh tương đối toàn diện, đáp ứng yêu cầu thực tiễn về cải cách tư pháp, thay đổi tổ chức bộ máy, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật.
.jpg)
Góp ý về chỉ tiêu giải quyết xét xử vụ án hình sự, vụ việc dân sự, vụ án hành chính tại điểm a khoản 1 Điều 4, đại biểu Lê Thị Nga cho biết, dự thảo Nghị quyết đang thể hiện theo hai phương án, đại biểu thống nhất phương án 1. Theo đó, cùng với việc phải bảo đảm giải quyết, xét xử vụ án hình sự, vụ việc dân sự, vụ án hành chính theo đúng thời hạn quy định của pháp luật, cần tiếp tục kế thừa chỉ tiêu định lượng trong giải quyết, xét xử vụ án, vụ việc hình sự và dân sự của Nghị quyết số 96.
Việc quy định chỉ tiêu định lượng sẽ tạo động lực cho các Tòa án đẩy nhanh tiến độ giải quyết vụ án, vụ việc, góp phần đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội, giải quyết nhanh chóng các tranh chấp, khiếu kiện phát sinh cho trong dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển trong giai đoạn mới.

Có quan điểm khác về điểm a khoản 1 Điều 4, ĐBQH Tráng A Tếnh (Sơn La) đồng tình với phương án 2, đề nghị không quy định chỉ tiêu mang tính định lượng đối với việc giải quyết, xét xử các vụ án, vụ việc mà chuyển sang giám sát kết quả hoạt động của các cơ quan tư pháp nói chung và Tòa án nhân dân các cấp nói riêng, theo tiêu chí chất lượng và thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại biểu cho rằng, pháp luật tố tụng quy định thời hạn giải quyết các vụ án, vụ việc rất chặt chẽ, rõ ràng buộc các cơ quan tiến hành tố tụng phải tuân thủ theo đúng đề án, nếu đề án quá hạn mới được xác định là vi phạm.
.jpg)
Hơn nữa, việc quy định tỷ lệ giải quyết các vụ án, vụ việc cố định được nêu tại phương án 1 của dự thảo Nghị quyết sẽ dẫn đến mâu thuẫn với quy định về thời hạn giải quyết vụ án, vụ việc đã được các luật về tố tụng quy định. Mặc dù thời hạn tố tụng vẫn còn, nhưng chỉ tiêu giải quyết về số lượng chưa đạt yêu cầu, gây áp lực rất lớn với hệ thống Tòa án.
Đại biểu Tráng A Tếnh cũng cho biết, qua thực tiễn giải quyết, xét xử các vụ án, vụ việc cho thấy nhiều vụ án, vụ việc thời gian giải quyết kéo dài không xuất phát từ lỗi chủ quan của Thẩm phán, Tòa án mà do nhiều nguyên nhân khách quan như: chờ cơ quan nhà nước giám định, cung cấp tài liệu chứng cứ; vắng mặt của đương sự; chậm cử đại diện của Viện kiểm sát hoặc đại diện của UBND cấp xã tham gia thẩm định tại chỗ, định giá tài sản; chờ kết quả ủy thác tư pháp ra nước ngoài; chờ tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự nước ngoài; sự thiếu hợp tác của đương sự trong việc tham gia tố tụng, cung cấp các tài liệu, chứng cứ...

Từ những phân tích, nhận định nêu trên, đại biểu đề nghị Quốc hội tập trung giám sát việc thực hiện các nhiệm vụ công tác của Tòa án thông qua việc đánh giá chất lượng và thời hạn giải quyết vụ án, vụ việc; đánh giá chất lượng và thời hạn giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của pháp luật. Đây là một trong những biện pháp tạo áp lực tích cực đối với các Tòa án và các Thẩm phán phải nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Hoàn thiện cơ chế quản lý tài sản mã hóa
Cho ý kiến về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của của Luật Phòng, chống rửa tiền, ĐBQH Trần Thị Hiền (Ninh Bình) cơ bản thống nhất với quy định chuyển tiếp khi thực hiện các quy định mới về nhận biết khách hàng và chủ sở hữu hưởng lợi (Điều 2 và Điều 4 dự thảo Luật). Việc sửa đổi, bổ sung các quy định về nhận biết khách hàng, xác định chủ sở hữu hưởng lợi, thu thập thông tin đối với thỏa thuận pháp lý và bổ sung trách nhiệm của các đối tượng báo cáo nhằm đáp ứng yêu cầu thực hiện các khuyến nghị của Lực lượng đặc nhiệm tài chính (FATF), góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống rửa tiền.

Tuy nhiên, dự thảo Luật bổ sung nhiều nghĩa vụ mới liên quan đến việc thu thập, cập nhật và lưu giữ thông tin khách hàng, chủ sở hữu hưởng lợi và các thông tin khác phục vụ công tác phòng, chống rửa tiền; trong khi Điều 4 của dự thảo Luật mới chỉ quy định thời điểm có hiệu lực thi hành từ ngày 01/12/2026, mà chưa có quy định chuyển tiếp đối với các quan hệ đã được xác lập trước thời điểm Luật có hiệu lực.
Đại biểu đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu bổ sung quy định chuyển tiếp hoặc giao Chính phủ quy định chi tiết việc cập nhật, bổ sung các thông tin theo quy định mới của Luật đối với khách hàng đã được thiết lập trước thời điểm Luật có hiệu lực. Quy định này sẽ tạo điều kiện để các đối tượng báo cáo triển khai thống nhất, khả thi, hạn chế phát sinh chi phí tuân thủ trong cùng một thời điểm, đồng thời vẫn bảo đảm đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và các chuẩn mực quốc tế về phòng, chống rửa tiền.

Thống nhất với việc bổ sung Điều 33a quy định các dấu hiệu đáng ngờ trong lĩnh vực tài sản mã hóa nhằm tăng cường hiệu quả công tác phòng, chống rửa tiền đối với lĩnh vực có mức độ rủi ro cao và đáp ứng yêu cầu của các chuẩn mực quốc tế, đại biểu Trần Thị Hiền đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục rà soát quy định tại Điều 33a theo hướng khái quát hơn, mang tính nguyên tắc; đối với các dấu hiệu mang tính nghiệp vụ, kỹ thuật hoặc có khả năng thay đổi nhanh theo sự phát triển của công nghệ và phương thức giao dịch tài sản mã hóa, thì nghiên cứu giao Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn, cập nhật theo thẩm quyền.

Quy định này sẽ bảo đảm tính ổn định của Luật, tạo cơ sở pháp lý để cơ quan quản lý nhà nước chủ động điều chỉnh, bổ sung kịp thời các dấu hiệu mới phát sinh trong thực tiễn, mà không phải sửa đổi Luật. Qua đó, nâng cao hiệu quả thực thi và đáp ứng yêu cầu phòng, chống rửa tiền trong bối cảnh công nghệ tài chính phát triển rất nhanh.

