Hoàn thiện hành lang pháp lý ngăn "tẩy xanh"
Chuyển đổi xanh đòi hỏi doanh nghiệp bỏ vốn, đổi mới công nghệ và chấp nhận chi phí tuân thủ. Nếu một sản phẩm có thể dễ dàng tự gắn “mác xanh” mà không cần chứng minh, doanh nghiệp đầu tư xanh thực chất sẽ chịu bất lợi. Hoàn thiện pháp luật để ngăn “tẩy xanh” vì thế cũng là cách tạo động lực cho chuyển đổi xanh.
Khi nhận thức về bảo vệ môi trường ngày càng được nâng cao, nhu cầu đối với các sản phẩm, dịch vụ xanh cũng gia tăng, từng bước hình thành một phân khúc thị trường giàu tiềm năng.
Đón đầu xu hướng này, nhiều doanh nghiệp đã chủ động đầu tư đổi mới công nghệ, cải tiến quy trình sản xuất, thay đổi nguyên liệu đầu vào và đáp ứng các yêu cầu về môi trường để đạt tiêu chuẩn Nhãn sinh thái Việt Nam. Quá trình này đòi hỏi nguồn lực đáng kể, làm tăng chi phí tuân thủ và có thể khiến sản phẩm khó cạnh tranh về giá trong giai đoạn đầu.
Tuy nhiên, thực tế cũng xuất hiện tình trạng một số tổ chức, cá nhân sử dụng các cụm từ như “xanh”, “thân thiện với môi trường”, “eco”, “sinh thái” trên bao bì, quảng cáo dù sản phẩm, dịch vụ chưa được kiểm định hoặc cấp chứng nhận Nhãn sinh thái. Đây là một biểu hiện của “tẩy xanh” (greenwashing), có thể khiến người tiêu dùng hiểu rằng sản phẩm mang lại lợi ích cho môi trường khi chưa có căn cứ kiểm chứng.
“Tẩy xanh” còn có thể xuất hiện trong các báo cáo ESG (môi trường, xã hội và quản trị), khi doanh nghiệp công bố những kết quả như giảm phát thải, tiết kiệm năng lượng nhưng thiếu phương pháp đo lường, dữ liệu kiểm chứng hoặc xác nhận độc lập.
Hệ quả không chỉ là người tiêu dùng khó phân biệt đâu là sản phẩm thực sự đáp ứng tiêu chuẩn môi trường. Những tuyên bố “xanh” thiếu căn cứ còn có thể làm suy giảm niềm tin vào thị trường, tạo ra sự cạnh tranh thiếu công bằng với các doanh nghiệp đầu tư nghiêm túc cho chuyển đổi xanh.
Bởi một doanh nghiệp phải bỏ vốn đổi mới công nghệ, thay đổi nguyên liệu, kiểm soát phát thải để đáp ứng tiêu chuẩn môi trường, trong khi một sản phẩm khác có thể tự gắn “mác xanh” mà không phải chịu chi phí tương ứng. Nếu hành vi này không được kiểm soát, doanh nghiệp đầu tư thực chất sẽ chịu bất lợi. Xa hơn, điều đó có thể làm giảm động lực chuyển đổi xanh và ảnh hưởng đến hiệu quả của chính sách khuyến khích.
Bởi vậy, để doanh nghiệp mạnh dạn chuyển đổi xanh, bên cạnh các chính sách hỗ trợ, ưu đãi, cần có cơ chế pháp lý đủ rõ để bảo vệ những sản phẩm thực sự đáp ứng tiêu chuẩn môi trường.
Hiện Việt Nam chưa có quy định riêng về “tẩy xanh”. Những quy định liên quan nằm rải rác trong pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quảng cáo, cạnh tranh và bảo vệ môi trường, nhưng chưa đủ cụ thể để nhận diện, xử lý các tình huống “tẩy xanh” trong thực tiễn. Trong khi đó, các tuyên bố về môi trường ngày càng phổ biến và đa dạng.
Luật Bảo vệ môi trường đang được sửa đổi, dự kiến trình Quốc hội tại kỳ họp tháng 10/2026. Đây là thời điểm phù hợp để xem xét hoàn thiện hành lang pháp lý đối với vấn đề này.
Một hướng cần cân nhắc là quy định rõ điều kiện sử dụng các thuật ngữ ám chỉ đặc tính sinh thái, thân thiện với môi trường trên nhãn mác và trong quảng cáo. Đối với những sản phẩm, dịch vụ thuộc phạm vi chứng nhận Nhãn sinh thái, việc sử dụng các thông điệp “xanh” cần gắn với tiêu chí, căn cứ và chứng nhận theo quy định, tránh tình trạng tự gắn “mác xanh” khi chưa được kiểm chứng.
Cùng với đó, Việt Nam cần từng bước hoàn thiện hướng dẫn về công bố thông tin môi trường, chuẩn hóa báo cáo ESG và phương pháp kiểm chứng dữ liệu “xanh”. Những tuyên bố về giảm phát thải, tiết kiệm năng lượng hay các lợi ích môi trường khác cần dựa trên dữ liệu và phương pháp đo lường có thể kiểm chứng.
Chuyển đổi xanh là quá trình cần nhiều nguồn lực và thời gian. Chính sách vì thế phải tạo động lực để doanh nghiệp sẵn sàng đầu tư cho quá trình này. Một trong những động lực căn bản là bảo đảm những doanh nghiệp làm xanh thực chất không chịu bất lợi trước những chủ thể chỉ tự nhận mình “xanh”.

