Hòa giải phải “dừng đúng lúc, chuyển đúng nơi”
Thảo luận tại hội trường sáng 10/8 về Dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi), ĐBQH Bùi Văn Dũng (Thanh Hóa) đề nghị làm rõ quyền của các bên trong hòa giải và thiết lập “điểm dừng pháp lý” rõ ràng. Theo đại biểu, hòa giải tốt không phải là giữ mọi tranh chấp ở lại cộng đồng bằng mọi giá, mà phải bảo vệ đúng quyền, dừng đúng lúc, chuyển đúng nơi, không để một cơ chế vốn mềm dẻo trở thành khoảng chờ làm chậm quyền tiếp cận công lý của người dân.
Tán thành sự cần thiết sửa đổi Luật Hòa giải ở cơ sở và đánh giá cao việc cơ quan soạn thảo đã tiếp thu các ý kiến tại phiên thảo luận tổ, ĐBQH Bùi Văn Dũng tập trung góp ý vào Điều 21 về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hòa giải và Điều 27 về kết thúc hòa giải.
Theo đại biểu, đây là hai điều luật trực tiếp xác lập quyền của người dân cũng như “điểm dừng” của quá trình hòa giải, qua đó xác định ranh giới giữa vận động, thuyết phục trong cộng đồng với việc bảo vệ quyền bằng pháp luật. Nếu quy định không đủ rõ ràng, một cơ chế mềm dẻo và giàu tính cộng đồng như hòa giải ở cơ sở có thể vô tình làm chậm quyền tiếp cận công lý của người dân.
Công khai phải trên cơ sở đồng thuận
Góp ý tại Điều 21 về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hòa giải, đại biểu Bùi Văn Dũng đề nghị làm rõ ba vấn đề. Trước hết, đối với quy định về quyền quyết định việc công khai hoặc không công khai quá trình hòa giải, đại biểu cho rằng dự thảo chưa xử lý tình huống các bên có quan điểm khác nhau. Trong trường hợp một bên muốn công khai nhưng bên còn lại không đồng ý, hòa giải viên sẽ không có căn cứ để quyết định.
.jpg)
Trong khi đó, những thông tin liên quan đến gia đình, đời tư hoặc bí mật kinh doanh, một khi đã bị công khai thì hậu quả rất khó khắc phục. Vì vậy, đại biểu đề nghị chỉ công khai khi tất cả các bên cùng đồng ý; nếu không đạt được sự đồng thuận thì mặc nhiên không công khai.
“Công khai là lựa chọn chung, bảo mật là trạng thái mặc định” là nguyên tắc được đại biểu đề xuất để bảo đảm tốt hơn quyền riêng tư và quyền tự quyết của các bên tham gia hòa giải.
Đối với quyền được phiên dịch, đại biểu nhận thấy dự thảo đã mở rộng quyền cho người tham gia hòa giải nhưng chưa làm rõ ai là người lựa chọn phiên dịch, ai chịu chi phí và trách nhiệm bảo mật của người phiên dịch được xác định như thế nào.
Theo đại biểu, nếu người yếu thế phải tự tìm người phiên dịch và tự chi trả chi phí thì quyền bình đẳng trong hòa giải có nguy cơ chỉ còn mang tính hình thức. Do đó, đại biểu đề nghị ngân sách bảo đảm những chi phí cần thiết; người phiên dịch phải được các bên chấp thuận, không có lợi ích liên quan đến vụ việc và phải chịu nghĩa vụ bảo mật.
Đại biểu nhấn mạnh, hòa giải chỉ thực sự tự nguyện khi mỗi bên hiểu đúng nội dung, có khả năng diễn đạt chính xác ý chí của mình và nhận thức đầy đủ hệ quả của thỏa thuận mà họ tham gia.
Một vấn đề khác được đại biểu lưu ý là quy định các bên có nghĩa vụ “trình bày đúng sự thật, cung cấp tài liệu, chứng cứ”. Theo đại biểu, cách quy định này mang dáng dấp của hoạt động tố tụng, trong khi hòa giải viên không có thẩm quyền xác minh để xác định đâu là “sự thật”.
Vì vậy, đại biểu đề nghị sửa theo hướng các bên có trách nhiệm “trình bày trung thực những tình tiết mình biết; tự nguyện cung cấp tài liệu liên quan và chịu trách nhiệm về thông tin do mình cung cấp”. Cách tiếp cận này vừa đề cao trách nhiệm của các bên, vừa tránh biến hòa giải viên thành người phán xét sự thật trong một cơ chế vốn dựa trên sự tự nguyện và thuyết phục.
Thiết lập “điểm dừng pháp lý” cho hòa giải
Đối với Điều 27 về kết thúc hòa giải, ĐBQH Bùi Văn Dũng đề nghị thiết kế “điểm dừng pháp lý” với ba lớp: điểm dừng về thời gian; điểm dừng vì an toàn, tính hợp pháp; và điểm nối sau hòa giải.
Ở lớp thứ nhất, đại biểu cho rằng tiêu chí “tiếp tục hòa giải không có kết quả” hiện còn hoàn toàn định tính. Điều này có thể khiến một vụ việc kéo dài trong khi thời hiệu khởi kiện của người dân vẫn tiếp tục trôi.
.jpg)
Do đó, đại biểu đề nghị thời hạn hòa giải phải do các bên thống nhất. Khi hết thời hạn mà các bên không gia hạn thì quá trình hòa giải kết thúc. Đồng thời, Luật cần khẳng định rõ việc hòa giải không làm gián đoạn hoặc tạm dừng thời hiệu, trừ trường hợp luật khác có quy định.
Theo đại biểu, thiện chí trong hòa giải không thể trở thành một “khoảng chờ pháp lý bất định”, làm ảnh hưởng đến khả năng sử dụng các công cụ pháp lý khác để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.
Ở lớp thứ hai, đại biểu đề nghị quy định rõ điểm dừng vì lý do an toàn và tính hợp pháp. Khi xuất hiện dấu hiệu bạo lực, xâm hại trẻ em, nguy cơ đối với tính mạng, sức khỏe hoặc khi vụ việc không còn thuộc phạm vi hòa giải theo Điều 3, hòa giải viên phải kết thúc ngay việc hòa giải, thực hiện các biện pháp bảo vệ cần thiết và chuyển thông tin tới cơ quan có thẩm quyền.
Đây phải là nghĩa vụ bắt buộc, không phụ thuộc vào ý chí của các bên. Đại biểu nhấn mạnh, khi đã xuất hiện nguy cơ gây hại, thước đo hiệu quả không còn là tỷ lệ hòa giải thành mà phải là khả năng ngăn chặn hậu quả.
Lớp thứ ba là tạo “điểm nối” sau khi hòa giải kết thúc. Thực tế, người dân có thể không biết sau hòa giải phải tìm đến cơ quan nào, bằng phương thức nào hoặc trong thời hạn bao lâu để tiếp tục bảo vệ quyền lợi của mình.
Vì vậy, đại biểu đề nghị hòa giải viên có trách nhiệm thông tin cho các bên về cơ quan tiếp nhận, phương thức bảo vệ quyền; đồng thời xác nhận thời điểm và lý do kết thúc hòa giải khi có yêu cầu. Theo đại biểu, đây không phải là việc hòa giải viên thực hiện tư vấn thay luật sư, mà nhằm bảo đảm người dân không rơi vào khoảng trống giữa cơ chế hòa giải cộng đồng và cơ chế pháp lý chính thức.
Khái quát lại các nội dung góp ý, ĐBQH Bùi Văn Dũng cho rằng Điều 21 và Điều 27 cần cùng thể hiện một thông điệp nhất quán: hòa giải phải bắt đầu bằng sự tự nguyện, vận hành bằng niềm tin và kết thúc bằng một lối ra pháp lý rõ ràng. Quyền của người dân phải được bảo vệ trong toàn bộ quá trình, kể cả trong trường hợp hòa giải không thành.
Đại biểu nhấn mạnh, hòa giải tốt không phải là giữ mọi tranh chấp ở lại cộng đồng bằng mọi giá. Hòa giải tốt là “bảo vệ đúng quyền, dừng đúng lúc, chuyển đúng nơi”, để sự mềm dẻo của cộng đồng không làm suy giảm sự nghiêm minh của pháp luật.

