Gỡ nút thắt thể chế trong bảo vệ môi trường, tạo nền tảng cho phát triển bền vững:Bài cuối: Pháp luật về môi trường mở đường cho chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn
Nếu các giai đoạn trước, trọng tâm của pháp luật về bảo vệ môi trường là kiểm soát ô nhiễm và xử lý chất thải thì trong bối cảnh phát triển mới, yêu cầu đặt ra không chỉ là ngăn ngừa các tác động tiêu cực đến môi trường mà còn phải tạo động lực cho chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải.
Doanh nghiệp giảm phát thải nhưng chưa được hưởng cơ chế tương xứng
Khảo sát thực tế của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường cho thấy, nhiều doanh nghiệp đã chủ động đầu tư công nghệ, triển khai các mô hình giảm phát thải, tái chế và tái sử dụng tài nguyên. Tuy nhiên, không ít mô hình vẫn chưa được hưởng cơ chế khuyến khích tương xứng; thậm chí, một số loại nguyên liệu tái chế vẫn đang được quản lý như chất thải.
Thực tế này đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện thể chế để biến những nỗ lực chuyển đổi xanh của doanh nghiệp thành động lực phát triển mới của nền kinh tế.

Một trong những nội dung được Đoàn công tác của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường ghi nhận qua khảo sát thực tế tại Công ty Đạm Ninh Bình là việc doanh nghiệp đã triển khai hiệu quả mô hình thu hồi và tái sử dụng khí CO₂ nhưng vẫn chưa có cơ chế pháp lý đầy đủ để ghi nhận kết quả giảm phát thải.
Với đặc điểm tiêu thụ trên 870.000 tấn than mỗi năm, phát sinh lượng lớn khí CO₂ và tro xỉ, Công ty Đạm Ninh Bình là đối tượng chịu áp lực cao về tuân thủ môi trường. Những năm gần đây, doanh nghiệp đã đầu tư triển khai nhiều giải pháp giảm phát thải, trong đó có hệ thống thu hồi và thương mại hóa CO₂, đồng thời lắp đặt điện mặt trời áp mái với tổng công suất 4,56 MW.
Theo báo cáo của doanh nghiệp, từ năm 2021, Công ty đã ký hợp đồng với Công ty cổ phần Khí công nghiệp Ninh Bình để sản xuất CO₂ lỏng, CO₂ rắn phục vụ ngành thực phẩm và các ngành công nghiệp khác. Riêng năm 2025, khối lượng CO₂ xuất bán đạt 126.272 tấn, tương đương lượng CO₂ được hấp thụ bởi hơn 6 triệu cây xanh sinh trưởng trong 10 năm. Trong 4 tháng đầu năm 2026, khối lượng CO₂ xuất bán đạt 41.195 tấn, tương đương lượng CO₂ được hấp thụ bởi khoảng 1.300 - 2.700 ha rừng nhiệt đới trong vòng một năm.
Năm 2026, doanh nghiệp tiếp tục ký hợp đồng với Công ty cổ phần CO₂ Product để thu hồi 100.000 tấn CO₂ mỗi năm phục vụ sản xuất CO₂ nồng độ cao cho ngành công nghiệp bán dẫn; đồng thời nghiên cứu các giải pháp thu hồi toàn bộ lượng CO₂ còn dư để sản xuất sô đa công suất 300.000 tấn mỗi năm.
Đoàn công tác của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường đánh giá đây là mô hình tiêu biểu về kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải. Tuy nhiên, theo phản ánh của doanh nghiệp, hiện vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể về việc lượng CO₂ thu hồi, lưu trữ hoặc tái sử dụng được ghi nhận như thế nào trong kết quả giảm phát thải hay chuyển đổi thành tín chỉ carbon trong nước.

Đại diện Công ty Đạm Ninh Bình cũng cho biết, doanh nghiệp chưa được hưởng chính sách ưu đãi hay cơ chế khuyến khích cụ thể đối với mô hình kinh tế tuần hoàn đang triển khai, mặc dù Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã đặt ra nhiều định hướng hỗ trợ đối với các hoạt động này.
Chuyển đổi xanh và bài toán thị trường
Không chỉ riêng lĩnh vực hóa chất, những khó khăn tương tự cũng đang đặt ra đối với ngành năng lượng và dầu khí trong quá trình chuyển đổi xanh.
Theo đại diện Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (PVN), tập đoàn đang triển khai nhiều giải pháp nhằm thực hiện mục tiêu giảm phát thải như nghiên cứu công nghệ thu hồi và lưu trữ carbon (CCS/CCUS); chuẩn bị đầu tư các dự án điện gió ngoài khơi; nghiên cứu sản xuất hydrogen xanh, ammonia xanh; chuẩn bị các điều kiện kỹ thuật để thực hiện công nghệ đốt kèm ammonia hoặc hydrogen tại các nhà máy nhiệt điện than với tỷ lệ lên tới 20%.
Tuy nhiên, thách thức lớn nhất hiện nay là bài toán kinh tế.
Theo PVN, chi phí thu hồi và chôn lấp CO₂ khoảng 180 USD cho mỗi tấn CO₂, trong khi giá tín chỉ carbon trên thị trường quốc tế hiện chỉ khoảng 10 USD. Việt Nam cũng chưa có thị trường carbon chính thức để tạo nguồn thu bù đắp chi phí đầu tư.
Đối với các dự án năng lượng mới, chi phí sản xuất điện gió ngoài khơi hiện cao gấp khoảng 2 lần, còn điện hạt nhân cao gấp khoảng 2,5 lần so với điện than. Việc sử dụng các nhiên liệu sạch như hydrogen hoặc ammonia xanh cũng làm gia tăng đáng kể chi phí sản xuất điện.
Phó Trưởng ban An toàn môi trường và Phát triển bền vững PVN Đỗ Thị Thu Phương cho biết, hiện vẫn thiếu các cơ chế tín dụng và tài chính phù hợp để hỗ trợ doanh nghiệp triển khai các dự án chuyển dịch năng lượng có mức độ rủi ro cao và nhu cầu vốn đầu tư lớn.

Từ thực tiễn đó, PVN kiến nghị bổ sung các quy định ưu tiên phát triển dự án năng lượng tái tạo và công nghệ mới phục vụ chuyển đổi xanh; đồng thời nghiên cứu cơ chế thử nghiệm (sandbox) đối với các công nghệ mới để tạo cơ sở hoàn thiện các định mức phát thải và cơ chế quản lý phù hợp trong tương lai.
Qua khảo sát thực tế cho thấy có 3 khoảng trống pháp lý lớn đối với chuyển đổi xanh và kinh tế tuần hoàn hiện nay gồm: chưa có hướng dẫn cụ thể về cơ chế xác nhận lượng CO₂ thu hồi thành tín chỉ carbon; chưa có hướng dẫn về thủ tục môi trường cho các dự án sử dụng công nghệ CCS/CCUS, hydrogen xanh, ammonia xanh; chưa có cơ chế tài chính đủ mạnh để hỗ trợ dự án rủi ro cao.
Theo Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Đỗ Đức Hồng Hà, đây đều là những vấn đề mới phát sinh trong thực tiễn, cần được nghiên cứu, hoàn thiện trong dự thảo Luật và các văn bản hướng dẫn nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ cho quá trình chuyển đổi xanh.
Từ quản lý chất thải sang quản lý tài nguyên tuần hoàn
Một trong những nội dung đáng chú ý được các doanh nghiệp kiến nghị trong quá trình khảo sát là thay đổi cách tiếp cận đối với các loại phụ phẩm, phế liệu phát sinh trong sản xuất.
Đại diện Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) cho biết, nhiều phụ phẩm của ngành dệt may hiện vẫn được quản lý như chất thải dù trên thực tế đã và đang được tái sử dụng hiệu quả trong sản xuất.

Theo Phó Ban Đầu tư và phát triển của Vinatex Nguyễn Thanh Ngân, chất thải rắn gần như không tồn tại vì mọi thành phần đều được tận dụng triệt để. Đơn cử, trong sản xuất, bông phế (bông ngắn) phát sinh từ các nhà máy kéo sợi chất lượng cao được thu gom và bán lại làm nguyên liệu cho các nhà máy sản xuất sợi thấp cấp hơn (ví dụ để dệt găng tay). Hay đối với mày bông (phế phẩm bông vụn nhất) được thu gom và chuyển cho ngành nông nghiệp để làm giá thể trồng nấm.
Đối với giẻ vải/vải vụn vốn bị coi là chất thải của ngành may, đại diện Vinatex cho biết, vải vụn hiện có giá trị rất cao trên thị trường, thường được thu gom để làm nguyên liệu đốt cho lò hơi hoặc làm nguyên liệu tái chế. Do đó, “Vinatex coi vải vụn là tiền chứ không phải rác”. .
Từ thực tế đó, Vinatex kiến nghị nghiên cứu công nhận một số loại chất thải đáp ứng điều kiện kỹ thuật là nguyên liệu hoặc tài nguyên sản xuất thay vì tiếp tục quản lý như chất thải thông thường. Theo doanh nghiệp, cách tiếp cận này sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn.
Đại diện Vinatex cũng mong muốn, các quy định pháp luật cần linh hoạt và sát thực tế hơn, nhằm cho phép doanh nghiệp tự do lưu chuyển và kinh doanh các loại phế liệu dệt may như một loại hàng hóa có giá trị, thay vì bị ràng buộc bởi các quy định quản lý chất thải nghiêm ngặt.
Cục trưởng Cục Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường Tăng Thế Cường cho biết, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường đã có những điều chỉnh quan trọng, theo đó, sẽ có một danh mục các loại chất thải được công nhận là nguyên liệu sản xuất; những chất thải đã được phân loại và đáp ứng tiêu chuẩn làm nguyên liệu sẽ được coi là sản phẩm hàng hóa, giúp doanh nghiệp dễ dàng áp dụng trong mô hình tái chế.

“Quan điểm xuyên suốt của lần sửa đổi này là chuyển mạnh từ “quản lý chất thải” sang “quản lý tài nguyên tuần hoàn”. Chất thải sau phân loại không còn chỉ được nhìn nhận là đối tượng phải xử lý mà phải từng bước trở thành nguồn nguyên liệu đầu vào cho nền kinh tế xanh và kinh tế carbon thấp. Dự thảo Luật đã bổ sung các quy định nhằm xác lập rõ hành lang pháp lý cho hoạt động tái chế, tái sử dụng chất thải”, Cục trưởng Tăng Thế Cường nhấn mạnh.
Nếu trước đây chất thải được xem là gánh nặng môi trường cần xử lý thì trong nền kinh tế tuần hoàn, chất thải có thể trở thành nguyên liệu đầu vào cho sản xuất, carbon có thể trở thành tài sản và dữ liệu môi trường có thể trở thành công cụ quản trị. Muốn hiện thực hóa điều đó, pháp luật cần đi trước một bước để mở đường cho các mô hình phát triển xanh.
Việc sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường lần này vì thế không chỉ nhằm giải quyết các vấn đề quản lý trước mắt mà còn hướng tới mục tiêu dài hạn: hình thành hệ sinh thái pháp lý thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, giảm phát thải, sử dụng hiệu quả tài nguyên và tạo động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế. Khi đó, chuyển đổi xanh sẽ không chỉ là yêu cầu về môi trường mà còn trở thành một trong những trụ cột của phát triển bền vững.

