Giúp Việt Nam phát triển kinh tế số an toàn, minh bạch
Sáng 9/8, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng, Quốc hội thảo luận tại Hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng.



Ngăn chặn việc sử dụng quan hệ tín dụng để ép buộc, ra các điều kiện để khách hàng mua sản phẩm đầu tư
Dự thảo Luật quy định kiểm soát xung đột lợi ích khi ngân hàng thương mại làm đại lý quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp. ĐBQH Lê Văn Thế (Ninh Bình) thống nhất bổ sung hoạt động này cho ngân hàng thương mại, bởi nếu được thiết kế tốt, đây có thể là một giải pháp chuyên nghiệp hơn trong quản lý tài sản bảo đảm và góp phần củng cố niềm tin của nhà đầu tư.


Tuy nhiên, đại biểu lưu ý, nếu một ngân hàng vừa là bên cấp tín dụng cho doanh nghiệp, vừa quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu, đồng thời lại có thể tham gia các khâu phân phối, thanh toán hoặc cung cấp dịch vụ khác cho đợt phát hành, thì xung đột lợi ích có thể phát sinh rất rõ. Đó là: khi doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính, lợi ích thu hồi khoản nợ của ngân hàng có thể không hoàn toàn đồng nhất với lợi ích của các trái chủ.

Vì vậy, đại biểu Lê Văn Thế đề nghị, phải thiết kế cơ chế để ngân hàng thương mại thực hiện hoạt động này một cách độc lập, minh bạch và không lạm dụng vị thế của mình.
Đại biểu cho rằng, ngay sau khi luật được ban hành, Chính phủ cần quy định cụ thể các vấn đề sau. Cụ thể là điều kiện, phạm vi và nguyên tắc thực hiện hoạt động đại lý quản lý tài sản bảo đảm; cơ chế nhận diện, công khai và kiểm soát xung đột lợi ích; trách nhiệm quản lý, công khai thông tin về tài sản bảo đảm, tách bạch tài sản, hồ sơ, dữ liệu và cơ chế giám sát, xử lý vi phạm.

Đại biểu cũng nhấn mạnh một nguy cơ cần phòng ngừa ngay từ khi thiết kế chính sách. Đó là tình trạng bán hàng hóa, dịch vụ chính nhưng kèm theo điều kiện khách hàng phải mua thêm hàng hóa, dịch vụ phụ, trong giới kinh doanh thường ví như “mua bia kèm lạc”.

Đại biểu nêu rõ, trong lĩnh vực ngân hàng, nếu không kiểm soát tốt, có thể phát sinh việc gắn cấp tín dụng, giải ngân, gia hạn hoặc cơ cấu khoản vay với yêu cầu khách hàng phải mua hoặc cam kết mua trái phiếu doanh nghiệp hay sản phẩm đầu tư khác. Nội dung này trước đây cũng đã từng xảy ra. Đây là ranh giới cần phải được quy định rõ để bảo vệ khách hàng và bảo đảm cạnh tranh lành mạnh trên thị trường tài chính.

Đại biểu Lê Văn Thế đề nghị Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước khi quy định chi tiết đặc biệt quan tâm đến việc ngăn chặn việc sử dụng quan hệ tín dụng để ép buộc hoặc tạo sức ép, ra các điều kiện để khách hàng mua sản phẩm đầu tư.
“Xây dựng Luật cũng nên phòng ngừa từ sớm, từ xa, không nên chờ đến khi vi phạm xảy ra mới sửa đổi Luật và văn bản dưới Luật”. Nhấn mạnh điều này, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu bổ sung điểm e vào sau điểm đ khoản 2 Điều 114 như sau: “Đại lý quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp. Chính phủ quy định chi tiết việc thực hiện nội dung này”.

Đại biểu cũng đề xuất hai nguyên tắc trong việc xây dựng dự thảo Luật là: mở rộng thẩm quyền phải đi cùng giới hạn pháp lý, dữ liệu và trách nhiệm giải trình; mở rộng hoạt động ngân hàng phải đi cùng kiểm soát xung đột lợi ích và bảo vệ nhà đầu tư.
Quy định rõ nghĩa vụ đặc thù đối với nhà cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa
Nêu rõ, Việt Nam đã chính thức ghi nhận khái niệm tài sản số và tài sản mã hóa tại Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025, đồng thời đặt nền móng triển khai thị trường thí điểm, ĐBQH Nguyễn Minh Đức (TP. Hồ Chí Minh) cho rằng, việc dự thảo Luật đưa các nhà cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa vào nhóm đối tượng báo cáo là bước đi tất yếu, chuẩn xác và có cơ sở pháp lý vững chắc, tương thích với các quy định về quyền tài sản tại Bộ luật Dân sự.

Để lấp khoảng trống phòng, chống rửa tiền trong lĩnh vực công nghệ cao và tránh độ vênh giữa các đạo luật, đại biểu kiến nghị thiết kế các nội dung cụ thể như dẫn chiếu chuẩn xác về mặt thuật ngữ. Dự thảo Luật không nên tự định nghĩa lại các khái niệm kỹ thuật, mà cần có điều khoản dẫn chiếu rõ ràng các khái niệm về tài sản số, tài sản mã hóa và dịch vụ tài sản mã hóa áp dụng theo quy định tại Luật Công nghiệp công nghệ số và Bộ luật Dân sự.

Đại biểu Nguyễn Minh Đức cũng đề nghị quy định rõ nghĩa vụ đặc thù đối với nhà cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa. Đó là, bắt buộc các tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hoá tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn kỹ thuật bao gồm: thực hiện quy trình nhận biết và xác minh danh tính khách hàng; áp dụng quy tắc lữ hành đối với mọi giao dịch chuyển giao tài sản mã hoá để lưu trữ và minh bạch thông tin người gửi/nhận; thiết lập chế độ lưu trữ nhật ký giao dịch trên blockchain và báo cáo kịp thời các giao dịch giá trị lớn hoặc giao dịch đáng ngờ, tương thích với cơ chế quyền bảo vệ tài sản.
"Các biện pháp ngăn chặn, phong tỏa hay xử lý tài sản phòng, chống rửa tiền đối với tài sản phi tập trung này phải tuân thủ nguyên tắc bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp theo pháp luật dân sự, đồng thời trao quyền rõ ràng, minh bạch cho các cơ quan chức năng", đại biểu Nguyễn Minh Đức nhấn mạnh.

Cùng với đó, đại biểu cũng đề nghị cần phân định rõ trách nhiệm quản lý nhà nước.
Cụ thể, Ngân hàng Nhà nước chủ trì, phối hợp đánh giá rủi ro quốc gia về rửa tiền và là đầu mối tiếp nhận dữ liệu báo cáo giao dịch đáng ngờ từ các nhà cung cấp dịch vụ tiền mã hoá.
Bộ Tài chính chịu trách nhiệm chủ trì quản lý nhà nước đối với thị trường tài sản mã hóa và hoạt động của các tổ chức cung cấp dịch vụ tiền mã hoá, trực tiếp thanh tra giám sát việc tuân thủ các quy định phòng, chống rửa tiền.
Bộ Công an thẩm định an ninh hệ thống thông tin của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ, chủ trì xử lý các hành vi lợi dụng tài sản mã hóa để rửa tiền, tài trợ khủng bố và áp dụng các biện pháp ngăn chặn, điều tra, phong toả, tịch thu tài sản.



Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp quản lý hạ tầng công nghệ, không gian mạng, giải pháp kỹ thuật liên quan đến chuỗi khối blockchain và hỗ trợ truy vết giao dịch ẩn danh.
Theo đại biểu Nguyễn Minh Đức, việc hoàn thiện đồng bộ khung pháp lý phòng, chống rửa tiền đối với tài sản mã hoá cùng với cơ chế phân công nhiệm vụ rạch ròi giữa các bộ, ngành sẽ tạo nên "bức tường" phòng thủ vững chắc, giúp Việt Nam phát triển kinh tế số an toàn, minh bạch và vừa thực thi nghiêm túc các chuẩn mực quốc tế.

