Gắn trách nhiệm bảo vệ môi trường với quyết định đầu tư
Thảo luận tại hội trường chiều 6/11 về dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, ĐBQH Bùi Văn Dũng (Thanh Hóa) đề nghị, kiểm soát xả thải ngay khi một thông số ô nhiễm đã chạm giới hạn chịu tải của nguồn nước; đồng thời, làm rõ quyền của chủ thể có tín chỉ carbon hợp lệ để khuyến khích đầu tư giảm phát thải.
Tán thành việc sửa đổi Luật, đại biểu Bùi Văn Dũng cho rằng yêu cầu cải cách thủ tục, tổ chức chính quyền địa phương hai cấp và chuyển đổi xanh đặt ra đòi hỏi cấp thiết phải hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường. Ô nhiễm nước, không khí, áp lực chất thải và hạ tầng xử lý chưa đồng bộ đang ảnh hưởng đến sức khỏe, sinh kế của người dân và khả năng thu hút đầu tư.

Theo đại biểu, việc sửa Luật cũng nhằm cụ thể hóa quan điểm của Nghị quyết Đại hội XIV về phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường, đồng thời thực hiện Kết luận số 75-KL/TW về bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu. Để tăng trưởng hai con số một cách bền vững, cần nâng giá trị tạo ra trên mỗi đơn vị tài nguyên, giảm phát thải và chi phí khắc phục ô nhiễm. Giới hạn sinh thái, dữ liệu và rủi ro môi trường cần trở thành căn cứ khi quyết định đầu tư.
“Một dự án có thể có lãi, nhưng xã hội vẫn chịu thiệt nếu chi phí ô nhiễm bị chuyển sang người dân và ngân sách”, ĐBQH Bùi Văn Dũng nhấn mạnh.
Đại biểu đề nghị quán triệt quan điểm không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế. Trách nhiệm của chủ thể hưởng lợi cần được xác định ngay từ quyết định đầu tư để bảo vệ cộng đồng, gìn giữ sinh kế, văn hóa cộng đồng và điều kiện sống của các thế hệ sau. Theo đại biểu, có những tổn hại đối với hệ sinh thái không thể khắc phục chỉ bằng tiền. Nghĩa vụ chi trả chi phí ô nhiễm phải đi cùng trách nhiệm phòng ngừa tổn hại.
Ghi nhận cơ quan soạn thảo đã tiếp thu ý kiến sau thảo luận tổ, đại biểu đánh giá dự thảo đã chú trọng quản lý theo rủi ro, tăng hậu kiểm bằng dữ liệu, kiểm soát tổng tải lượng chất ô nhiễm theo lưu vực, thúc đẩy sử dụng vật liệu tái chế và phát triển thị trường carbon.

Góp ý về kiểm soát xả thải, đại biểu chỉ rõ điểm a khoản 5 Điều 1 dự thảo, sửa đổi khoản 2 Điều 7, vẫn gắn điều kiện hạn chế xả thải với việc nguồn nước hết khả năng chịu tải đối với tất cả các thông số bắt buộc đánh giá. Theo đại biểu, nếu một đoạn sông đã quá tải về tổng nitrogen thì việc đoạn sông còn khả năng tiếp nhận các chất khác cũng không làm giảm rủi ro do nitrogen. Nước thải có nồng độ chất ô nhiễm thấp vẫn có thể làm tăng đáng kể tổng tải lượng nếu lưu lượng xả lớn.
Dẫn nguyên tắc ngăn suy giảm tình trạng nguồn nước tại Điều 4 Chỉ thị khung về nước của Liên minh châu Âu và quy định tại khoản 2 Điều 22 Luật Tài nguyên nước về việc căn cứ vào chức năng nguồn nước để cấp phép dự án xả thải, đại biểu đề nghị quy định ngay tại Điều 7 yêu cầu không làm tăng tổng tải lượng đối với bất kỳ thông số nào mà nguồn nước đã hết khả năng chịu tải. Quy định cần bảo đảm an toàn nguồn cấp nước sinh hoạt và giao Chính phủ quy định cách chứng minh, giám sát việc thực hiện.
Về tín chỉ carbon, đại biểu cho biết khoản 61 Điều 1 dự thảo sửa đổi Điều 139 theo hướng xác định tín chỉ carbon là hàng hóa giao dịch; trong khi địa vị pháp lý của tín chỉ vẫn được tiếp tục nghiên cứu. Đại biểu đề nghị đối chiếu quy định về quyền tài sản tại Điều 115 Bộ luật Dân sự để làm rõ quyền của chủ thể có tín chỉ hợp lệ, điều kiện chuyển giao và hậu quả pháp lý khi tín chỉ bị thu hồi hoặc hủy bỏ. Tín chỉ carbon và hạn ngạch phát thải cần được phân định rõ vì có căn cứ hình thành khác nhau.
“Quyền và rủi ro rõ ràng mới giúp doanh nghiệp tính toán đầu tư công nghệ sạch”, ĐBQH Bùi Văn Dũng nhấn mạnh.
Đại biểu nhấn mạnh, Luật cần bảo vệ người dân chịu tác động của ô nhiễm và bảo đảm quyền hưởng lợi hợp pháp của những chủ thể bỏ vốn, công sức để giảm phát thải. Đây là cơ sở để gắn lợi ích tăng trưởng với trách nhiệm bảo vệ môi trường ngay từ quyết định đầu tư.

