Quốc hội và Cử tri

Đưa sáng tạo văn hóa thành ngành kinh tế thực thụ

Nhật Linh thực hiện • 23/10/2026 08:27

Với nhiều chính sách đặc thù về quyền sở hữu trí tuệ, hạ tầng, thị trường, tài chính và ưu đãi đầu tư, dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được kỳ vọng tạo khung pháp lý để sáng tạo văn hóa trở thành một ngành kinh tế thực thụ. Báo Đại biểu Nhân dân có cuộc trao đổi với ĐBQH hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Văn hóa và Xã hội DƯƠNG MINH ÁNH xung quanh dự án Luật này.

Đưa sáng tạo văn hóa thành ngành kinh tế thực thụ

Với nhiều chính sách đặc thù về quyền sở hữu trí tuệ, hạ tầng, thị trường, tài chính và ưu đãi đầu tư, dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được kỳ vọng tạo khung pháp lý để sáng tạo văn hóa trở thành một ngành kinh tế thực thụ. Báo Đại biểu Nhân dân có cuộc trao đổi với ĐBQH hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Văn hóa và Xã hội DƯƠNG MINH ÁNH xung quanh dự án Luật này.

Ủy ban Văn hóa và Xã hội khảo sát tại Tổ hợp Cộng đồng Complex 01, Hà Nội
Ủy ban Văn hóa và Xã hội khảo sát tại Tổ hợp Cộng đồng Complex 01, Hà Nội. Ảnh: Ngọc Phương

Bốn vướng mắc lớn và lời giải trong dự thảo Luật

- Trong bối cảnh chúng ta đang thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa, theo bà, việc xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa cần thiết và có ý nghĩa như thế nào, thưa bà?

- Sự cần thiết của Luật này bắt đầu từ sự thay đổi trong cách nhìn nhận về văn hóa, không chỉ để gìn giữ mà còn là nguồn lực để phát triển. Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đặt mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP vào năm 2030 và 9% vào năm 2045. Trong khi đó, theo số liệu của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, năm 2022 ngành này mới đóng góp khoảng 4% GDP. Khoảng cách ấy cho thấy muốn tăng tốc không thể trông vào những giải pháp đơn lẻ, mà cần một khuôn khổ pháp luật đủ rõ, đủ mạnh.

Pháp luật về công nghiệp văn hóa hiện nằm rải rác trong các luật chuyên ngành như điện ảnh, sở hữu trí tuệ, quảng cáo, du lịch, xuất bản... Mỗi luật quản lý tốt một lĩnh vực, nhưng chưa có luật nào nhìn công nghiệp văn hóa như một chuỗi giá trị liền mạch, từ sáng tạo, sản xuất, phân phối, tiêu dùng đến tái đầu tư. Luật này lấp khoảng trống đó. Trong đó, ý nghĩa lớn nhất là chuyển từ tư duy quản lý sang kiến tạo: Nhà nước dọn đường bằng vốn, hạ tầng, nhân lực, thị trường để người sáng tạo và doanh nghiệp đi trên con đường ấy.

“

Chưa có luật nào nhìn công nghiệp văn hóa như một chuỗi giá trị liền mạch, từ sáng tạo, sản xuất, phân phối, tiêu dùng đến tái đầu tư. Luật này lấp khoảng trống đó.

ĐBQH Dương Minh Ánh

Đoàn khảo sát của Ủy ban Văn hóa và Giáo dục làm việc với Đại học Quốc gia Hà Nội về thực hiện chính sách, pháp luật trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa
Đoàn khảo sát của Ủy ban Văn hóa và Giáo dục làm việc với Đại học Quốc gia Hà Nội về thực hiện chính sách, pháp luật trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa. Ảnh: Ngọc Phương

- Để phục vụ công tác thẩm tra dự án Luật, Ủy ban Văn hóa và Xã hội đã tổ chức khảo sát tại một số địa phương, làm việc với các cơ quan, đơn vị, tổ chức liên quan. Bà nhận thấy những vấn đề thực tiễn đặt ra đã được dự thảo Luật giải quyết ra sao?

- Có bốn vướng mắc lớn, và dự thảo Luật đã bước đầu có lời giải cho từng vướng mắc.

Thứ nhất, sáng tạo có nhưng khó biến thành vốn. Tài sản lớn nhất của doanh nghiệp văn hóa là quyền sở hữu trí tuệ, nhưng loại tài sản này khó định giá nên khó góp vốn, khó thế chấp. Dự thảo Luật cho phép dùng quyền sở hữu trí tuệ để góp vốn, làm tài sản bảo đảm trong quan hệ tín dụng; hỗ trợ nâng cao năng lực định giá; đồng thời có cơ chế bảo lãnh tín dụng thông qua quỹ bảo lãnh đối với khoản vay được bảo đảm bằng quyền sở hữu trí tuệ.

Thứ hai, thiếu không gian và hạ tầng cho sáng tạo. Dự thảo Luật đặt nền tảng cho tổ hợp sáng tạo văn hóa, cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa; cho phép chuyển đổi công năng nhà máy, công trình sẵn có; mở đường sử dụng không gian công cộng cho hoạt động công nghiệp văn hóa; và hình thành Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia dùng chung.

Đoàn khảo sát của Ủy ban Văn hóa và Giáo dục làm việc với UBND TP. Hồ Chí Minh về thực hiện chính sách, pháp luật trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa
Đoàn khảo sát của Ủy ban Văn hóa và Giáo dục làm việc với UBND TP. Hồ Chí Minh về thực hiện chính sách, pháp luật trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa. Ảnh: Lê Hoa

Thứ ba, thiếu vốn và thiếu cơ chế chia sẻ rủi ro. Đầu tư vào sáng tạo luôn nhiều rủi ro, trong khi chính sách ưu đãi dành cho lĩnh vực này chưa tương xứng. Dự thảo Luật cho phép quỹ đầu tư mạo hiểm, kể cả quỹ có vốn nhà nước, đầu tư vào doanh nghiệp văn hóa theo nguyên tắc thị trường, chấp nhận rủi ro có kiểm soát; đồng thời có ưu đãi đầu tư, ưu đãi thuế cho hạ tầng, cụm, khu công nghiệp sáng tạo và các dự án có giá trị cao.

Thứ tư, nhân lực và thị trường. Dự thảo Luật xây dựng Khung năng lực nhân lực, danh mục ngành, nghề ưu tiên đào tạo; tạo điều kiện để nghệ sĩ, nghệ nhân, chuyên gia tham gia giảng dạy. Về thị trường, có sàn giao dịch công nghiệp văn hóa, thương hiệu quốc gia và chính sách hỗ trợ tiêu dùng sản phẩm văn hóa.

Ủy ban đề nghị tiếp tục rà soát để dự thảo Luật quy định đầy đủ chuỗi giá trị, lấy chủ thể sáng tạo và doanh nghiệp làm trung tâm; ưu tiên đầu tư các ngành Việt Nam có thế mạnh. Nhiều chính sách cần ngân sách thì phải lượng hóa cụ thể hơn.

Biến quyền sở hữu trí tuệ thành tài sản thực sự

- Là người từng hoạt động văn hóa - nghệ thuật, bà tâm đắc với nhóm chính sách nào nhất trong dự thảo Luật?

- Tôi tâm đắc nhất với nhóm chính sách về xác lập và xác định giá trị quyền sở hữu trí tuệ. Công nghiệp văn hóa khác nhiều ngành khác ở chỗ tài sản cốt lõi không phải máy móc hay đất đai, mà là ý tưởng: một kịch bản, một bộ nhân vật, một bản nhạc, một mẫu thiết kế, một thương hiệu… Nếu ý tưởng không thể thành vốn thì sáng tạo khó đi xa.

Dự thảo Luật mở ra ba bước. Một là cho phép dùng quyền sở hữu trí tuệ để góp vốn và làm tài sản bảo đảm vay vốn. Hai là hỗ trợ xây dựng phương pháp, tiêu chuẩn, cơ sở dữ liệu định giá; đào tạo thẩm định viên; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch định kỳ công bố thông tin giao dịch để làm căn cứ tham chiếu. Ba là có cách xử lý khi doanh nghiệp giải thể, phá sản: khi các phương án có giá trị tài chính tương đương thì ưu tiên phương án tiếp tục khai thác quyền sở hữu trí tuệ, để giữ giá trị kinh tế và văn hóa của tác phẩm thay vì để nó mai một.

“

Công nghiệp văn hóa khác nhiều ngành khác ở chỗ tài sản cốt lõi không phải máy móc hay đất đai, mà là ý tưởng: một kịch bản, một bộ nhân vật, một bản nhạc, một mẫu thiết kế, một thương hiệu… Nếu ý tưởng không thể thành vốn thì sáng tạo khó đi xa.

ĐBQH Dương Minh Ánh

Ủy ban Văn hóa và Xã hội khảo sát tại Công ty CP DatViet VAC Group Holdings
Ủy ban Văn hóa và Xã hội khảo sát tại Công ty CP DatViet VAC Group Holdings. Ảnh: Lê Hoa

Tôi đánh giá cao cách thiết kế thận trọng: kết quả định giá chỉ là thông tin tham chiếu, còn quyết định nhận tài sản bảo đảm và cấp tín dụng vẫn thuộc về tổ chức tín dụng. Cách làm này vừa mở cửa cho sáng tạo, vừa không đẩy rủi ro sang hệ thống ngân hàng. Ủy ban đề nghị cân nhắc thêm một số điểm, chẳng hạn quy định miễn trách nhiệm cho thẩm định viên về giá nếu giữ lại thì phải kèm cơ chế kiểm tra, hậu kiểm để phòng ngừa thông đồng, trục lợi.

Ngoài ra, tôi cũng chú ý đến cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, cho phép thử những mô hình mới chưa có trong luật trong phạm vi, thời hạn nhất định. Đây là cách làm phù hợp với một lĩnh vực luôn đổi mới như công nghiệp văn hóa, nhưng nên dẫn chiếu Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo, chỉ quy định phần đặc thù của lĩnh vực văn hóa.

Ủy ban Văn hóa và Xã hội khảo sát tại Tổ hợp Cộng đồng Complex 01, Hà Nội
Ủy ban Văn hóa và Xã hội khảo sát tại Tổ hợp Cộng đồng Complex 01, Hà Nội. Ảnh: Ngọc Phương

- Trong công nghiệp văn hóa, xác lập giá trị quyền sở hữu trí tuệ đã quan trọng, nhưng bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ quan trọng không kém. Nạn vi phạm bản quyền, đặc biệt trên không gian mạng, đang là “ác mộng” của giới nghệ sĩ Việt Nam. Dự thảo Luật đã đưa ra những quy định hoặc công cụ nào đủ mạnh để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và bảo đảm quyền lợi của đội ngũ sáng tạo, thưa bà?

- Tôi chia sẻ với nỗi lo của giới nghệ sĩ. Theo số liệu của Cục Cảnh sát kinh tế, Bộ Công an, riêng 6 tháng đầu năm 2026, cơ quan chức năng đã gỡ bỏ hơn 1.350 website vi phạm, xử phạt 55 vụ với số tiền khoảng 29 tỷ đồng và khởi tố 15 vụ án. Những con số này cho thấy quy mô và mức độ phức tạp của vấn nạn.

Nhưng cần nhìn đúng vai trò của từng đạo luật. Chế tài xử lý vi phạm và trách nhiệm của nền tảng trong việc gỡ bỏ nội dung vi phạm thuộc phạm vi của Luật Sở hữu trí tuệ. Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa không thay thế mà bổ sung, theo ba hướng.

Với việc xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, kỳ vọng những sản phẩm mang bản sắc Việt Nam đủ sức cạnh tranh. Ảnh: Yeah1
Với việc xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, kỳ vọng những sản phẩm mang bản sắc Việt Nam đủ sức cạnh tranh. Ảnh: Yeah1

Một là, giúp người sáng tạo chứng minh quyền của mình ngay từ đầu. Dự thảo Luật xây dựng nền tảng số hỗ trợ xác thực chủ thể sáng tạo, lưu nhật ký sáng tạo, hỗ trợ đăng ký quyền, có dấu thời gian và chữ ký số. Khi đã có hồ sơ rõ ai sáng tạo, từ lúc nào, việc đòi quyền sẽ thuận lợi hơn.

Hai là, nâng giá trị của quyền sở hữu trí tuệ. Khi quyền này có thể góp vốn, thế chấp, giao dịch, người sáng tạo và nhà đầu tư càng có động lực bảo vệ nó. Dự thảo Luật cũng liệt kê các hành vi bị nghiêm cấm, trong đó có xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, giả mạo nguồn gốc sản phẩm, chủ thể sáng tạo hoặc hồ sơ, dữ liệu về quyền.

Ba là, bảo vệ trên không gian mạng. Ủy ban đề nghị nghiên cứu, bổ sung quy định về chủ quyền văn hóa trên không gian mạng; về phối hợp, phân định trách nhiệm giữa cơ quan quản lý văn hóa và cơ quan quản lý an ninh mạng trong kiểm soát nền tảng xuyên biên giới; về bảo vệ Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia.

Theo tôi, để bảo vệ thực chất, Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi phải có cơ chế để các nền tảng, nhất là nền tảng xuyên biên giới, gỡ bỏ nội dung vi phạm trong thời hạn nhất định; thực thi nghiêm, xử lý mạnh các vi phạm có tổ chức; và nâng ý thức tôn trọng bản quyền của người dùng.

Hạn chế chồng chéo, khoảng trống pháp lý

- Công nghiệp văn hóa có liên quan trực tiếp đến nhiều lĩnh vực khác. Quá trình thẩm tra dự án Luật, nhiều ý kiến băn khoăn có thể xảy ra xung đột hoặc khoảng trống pháp lý. Bà có thể cho biết thêm về nội dung này?

- Công nghiệp văn hóa là lĩnh vực liên ngành nên dự thảo Luật chạm đến rất nhiều luật: Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Đầu tư, các luật thuế, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, Luật Đất đai, Luật Giáo dục đại học, Luật Tổ chức tín dụng, Luật Phục hồi, phá sản... Ủy ban Văn hóa và Xã hội đã đề nghị cơ quan soạn thảo rà soát kỹ lưỡng các luật này và với các dự án luật đang trình Quốc hội ở cùng kỳ họp.

Có thể nêu vài ví dụ để dễ hình dung. Thứ nhất là cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, vốn đã có trong Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo; vì vậy nên dẫn chiếu và chỉ quy định phần đặc thù của công nghiệp văn hóa. Thứ hai là ưu đãi thuế, dự thảo Luật vừa đưa chính sách vào Luật này, vừa sửa đổi, bổ sung Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Đầu tư; Ủy ban đề nghị đánh giá tác động giảm thu ngân sách và bảo đảm đồng bộ với các luật thuế đang trình Quốc hội.

Anh trai vượt ngàn chông gai 20266
Dự thảo Luật cho phép dùng quyền sở hữu trí tuệ để góp vốn, làm tài sản bảo đảm trong quan hệ tín dụng, thúc đẩy sáng tạo. Ảnh: Yeah1

Hay là về đất đai, việc chuyển đổi nhà máy, công trình thành cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa phải khớp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, nên cần thống nhất với Luật Đất đai (sửa đổi) và Luật Quy hoạch. Một số chính sách hỗ trợ có khả năng xung đột với Điều 9.10 Hiệp định CPTPP, các cam kết tương ứng trong EVFTA và nguyên tắc đối xử quốc gia, cần được đối chiếu cụ thể từng chính sách...

Để hạn chế chồng chéo, Ủy ban đề nghị những gì luật khác đã quy định thì dẫn chiếu, không quy định lại; Luật này chỉ giữ chính sách đặc thù, vượt trội. Đồng thời tách nguyên tắc áp dụng pháp luật thành một điều riêng, quy định rõ cơ quan nào có thẩm quyền xác định việc áp dụng chính sách ưu tiên, ưu đãi, để không bị hưởng trùng và không phát sinh vướng mắc khi thi hành.

Thực tế cũng có ý kiến đề nghị cân nhắc không ban hành luật riêng mà sửa các luật chuyên ngành. Ý kiến ấy nhắc chúng ta một điều: Luật này chỉ có lý do tồn tại khi thực sự đặc thù và vượt trội so với các luật hiện có.

Lễ hạ nêu tại Đại hội Huế
Khi dự án Luật được Quốc hội thông qua, kỳ vọng người dân được hưởng thụ văn hóa nhiều hơn. Ảnh: Trung tâm bảo tồn Di tích Cố đô Huế

Vì sao cần xem xét trong hai kỳ họp?

- Việc dự án Luật được trình Quốc hội cho ý kiến tại Kỳ họp thứ Hai, xem xét thông qua tại Kỳ họp thứ Ba, phải chăng là bởi độ khó cũng như sự phức tạp như bà vừa nêu?

- Đó là một lý do. Dự án Luật được xây dựng mới, liên quan nhiều lĩnh vực, nhiều luật. Đồng thời, dự án Luật được xây dựng và trình Quốc hội theo thủ tục rút gọn, không thực hiện đầy đủ quy trình xây dựng chính sách. Khâu soạn thảo đã được rút ngắn thì càng cần dành thời gian cho khâu thẩm tra và hoàn thiện.

Chẳng hạn như, Báo cáo đánh giá tác động chính sách ước tính huy động khoảng 500.000 tỷ đồng trong 5 năm, trong đó ngân sách nhà nước khoảng 100.000 tỷ đồng, nhưng chưa tách rõ nhu cầu ngân sách trung ương và địa phương; các chính sách ưu đãi thuế, hoàn thuế cũng chưa được đánh giá cụ thể tác động giảm thu. Dự thảo Luật đã được rút gọn từ 9 chương, 53 điều còn 8 chương, 39 điều, nhưng vẫn cần tiếp tục chắt lọc, bảo đảm có trọng tâm, trọng điểm và đồng bộ với nhiều luật khác đang được sửa đổi.

Việc cho ý kiến ở Kỳ họp thứ Hai, thông qua ở Kỳ họp thứ Ba giúp đại biểu Quốc hội có thời gian thảo luận kỹ, cơ quan soạn thảo có thời gian tiếp thu, giải trình, để hoàn thiện dự thảo Luật.

Đưa sáng tạo văn hóa thành ngành kinh tế thực thụ

Kỳ vọng về một ngành kinh tế sáng tạo

- Bà kỳ vọng gì về công nghiệp văn hóa Việt Nam khi đạo luật này được ban hành và đi vào cuộc sống?

- Trước hết, tôi kỳ vọng vào những con số mà Nghị quyết số 80-NQ/TW đã đặt ra: công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP vào năm 2030 và 9% vào năm 2045. Nhưng điều tôi mong hơn cả là những thay đổi mà người trong nghề cảm nhận được trong đời sống hằng ngày.

Một là, người sáng tạo sống được bằng sáng tạo. Tác phẩm được bảo vệ, được định giá, được giao dịch, thậm chí có thể mang đi vay vốn.

Hai là, doanh nghiệp văn hóa, kể cả doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ gia đình, làng nghề, cộng đồng tiếp cận được vốn, không gian và nhân lực. Họ là những chủ thể sáng tạo đang thiếu những điều kiện này nhất.

Ba là, những sản phẩm mang bản sắc Việt Nam đủ sức cạnh tranh. Không chỉ ở thị trường trong nước mà cả trên thị trường quốc tế, bằng chính giá trị văn hóa và chất lượng sáng tạo của mình.

Bốn là, người dân được hưởng thụ văn hóa nhiều hơn. Nhất là trẻ em, đồng bào dân tộc thiểu số và người dân ở địa bàn khó khăn, những đối tượng mà dự thảo Luật đã ưu tiên khả năng tiếp cận.

Để kỳ vọng thành hiện thực, theo tôi cần ba điều: các nghị định, thông tư hướng dẫn được ban hành kịp thời để luật có hiệu lực là đi vào cuộc sống ngay; nguồn lực được bố trí thực chất, trong đó có việc thực hiện mức chi tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước cho văn hóa theo Nghị quyết số 28/2026/QH16; và bộ máy thực thi đủ năng lực, nhất là ở cấp địa phương.

Luật chỉ là cánh cửa. Người bước qua cánh cửa ấy là nghệ sĩ, doanh nghiệp và cộng đồng sáng tạo.

- Xin trân trọng cảm ơn bà!

Nhật Linh thực hiện
Duy Thông
trình bày

    Đưa sáng tạo văn hóa thành ngành kinh tế thực thụ
    • Mặc định