Ý kiến đại biểu

Dữ liệu phải bảo đảm khả năng truy xuất nguồn gốc

Diệp Anh • 06/11/2026 20:32

Nhấn mạnh khả năng sử dụng dữ liệu biển cho trí tuệ nhân tạo, các mô hình dự báo và bản sao số đại dương trong tương lai, song thảo luận tại Hội trường về dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) chiều 6/11, ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú (Nghệ An) lưu ý, dữ liệu phải bảo đảm khả năng truy xuất nguồn gốc, xác định được phương pháp đo đạc, sai số, thời điểm cập nhật và cơ quan chịu trách nhiệm.

Rà soát dữ liệu trước khi phê duyệt nhiệm vụ điều tra mới

Đánh giá dự thảo Luật đã được chỉnh lý theo hướng tăng cường quản trị tổng hợp, ứng dụng khoa học, công nghệ và dữ liệu trong quản lý biển, ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú tập trung góp ý các quy định về điều tra cơ bản và dữ liệu biển tại Điều 14 và Điều 15.

Theo đại biểu, điểm c khoản 1 Điều 14 dự thảo Luật quy định hoạt động điều tra phải dựa trên nhu cầu, kế thừa kết quả điều tra, nghiên cứu khoa học đã thực hiện; đồng thời yêu cầu lồng ghép, phối hợp giữa các bộ, ngành và địa phương khi điều tra trên cùng vùng biển. Điểm d cùng khoản quy định kết quả điều tra phải được nghiệm thu, giao nộp, chia sẻ và cập nhật vào cơ sở dữ liệu quốc gia.

ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú (Nghệ An)VQK_6960
ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú (Nghệ An) phát biểu. Ảnh: Quang Khánh

Tuy nhiên, đại biểu cho rằng, những quy định này là cần thiết nhưng chưa đủ để ngăn ngừa tình trạng điều tra trùng lặp.

Trước khi phê duyệt một nhiệm vụ điều tra mới, cơ quan có thẩm quyền cần xác định rõ dữ liệu cần thu thập đã có hay chưa, dữ liệu hiện có còn đáp ứng yêu cầu sử dụng hay không và những nội dung nào thực sự cần điều tra bổ sung.

Nếu thiếu bước rà soát bắt buộc, dù Luật đã đặt ra yêu cầu kế thừa kết quả điều tra, vẫn có thể xảy ra tình trạng nhiều cơ quan tiến hành khảo sát cùng một khu vực biển bằng các nguồn ngân sách khác nhau.

Trong khi đó, Điều 15 dự thảo Luật xác định nguyên tắc “dữ liệu được tạo lập một lần, cập nhật thường xuyên, sử dụng nhiều lần”; đồng thời yêu cầu kết nối với Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia, dữ liệu quy hoạch, môi trường và cơ sở dữ liệu chuyên ngành.

Từ đó, đại biểu Nguyễn Thị Minh Tú đề nghị kết nối các quy định tại Điều 14 và Điều 15 thông qua cơ chế đánh giá khoảng trống dữ liệu. Cụ thể, đại biểu đề nghị bổ sung vào khoản 1 Điều 14 quy định trước khi quyết định, phê duyệt nhiệm vụ điều tra cơ bản sử dụng ngân sách nhà nước, cơ quan có thẩm quyền phải rà soát cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và kết quả điều tra, nghiên cứu hiện có; chỉ thực hiện điều tra mới hoặc điều tra bổ sung khi dữ liệu hiện có không đáp ứng yêu cầu về phạm vi, chất lượng, độ chính xác, độ phân giải hoặc tính cập nhật.

Dẫn kinh nghiệm từ Mạng lưới quan sát và dữ liệu biển châu Âu, đại biểu cho biết, việc thu thập dữ liệu một lần, sử dụng nhiều lần, chú trọng chuẩn hóa, khả năng truy xuất nguồn gốc và xác định đúng những khoảng trống dữ liệu cần bổ sung là hướng tiếp cận nhằm nâng cao hiệu quả quản trị, hạn chế thu thập lại những dữ liệu đã có.

Các ĐBQH tỉnh Nghệ An dự phiên họp tại Hội trường. Ảnh: Khánh Duy
Các ĐBQH tỉnh Nghệ An dự phiên họp tại Hội trường. Ảnh: Khánh Duy

Bên cạnh đó, đại biểu đề nghị Điều 15 làm rõ trách nhiệm đối với chất lượng dữ liệu. Theo đó, cơ quan tạo lập chịu trách nhiệm về phương pháp, độ chính xác và thời điểm tạo lập; cơ quan chuyên ngành chịu trách nhiệm cập nhật; Bộ Nông nghiệp và Môi trường chịu trách nhiệm chuẩn hóa, tích hợp, liên thông và khai thác dữ liệu.

Hoàn thiện cơ chế chấp thuận, công bố kết quả nghiên cứu khoa học biển

Góp ý về nghiên cứu khoa học biển của tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Điều 17 và Điều 18, ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú đánh giá dự thảo Luật đã có bước tiến khi phân biệt hoạt động nghiên cứu khoa học biển với hoạt động khảo sát trực tiếp phục vụ đầu tư, xây dựng, vận hành dự án thương mại; đồng thời bổ sung cơ chế đình chỉ, thu hồi và chấm dứt hoạt động nghiên cứu.

Tuy nhiên, theo đại biểu, điểm c khoản 1 Điều 17 dự thảo Luật vẫn sử dụng cụm từ “tổ chức, cá nhân nước ngoài” khi quy định về cơ chế chấp thuận mặc nhiên theo Điều 252 Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982.

Quang cảnh phiên thảo luận toàn thể tại hội trường. Ảnh: Quang Khánh
Quang cảnh phiên thảo luận toàn thể tại hội trường. Ảnh: Quang Khánh

Đại biểu cho rằng, cơ chế chấp thuận mặc nhiên theo Điều 252 của Công ước được áp dụng đối với hoạt động nghiên cứu khoa học biển do quốc gia hoặc tổ chức quốc tế có thẩm quyền tiến hành khi đáp ứng các điều kiện theo Công ước, không nên được hiểu là áp dụng chung cho mọi doanh nghiệp, tổ chức tư nhân hoặc cá nhân nước ngoài.

Vì vậy, đại biểu đề nghị sửa điểm c khoản 1 Điều 17 theo hướng quy định trực tiếp trong Luật về chủ thể được áp dụng cơ chế chấp thuận mặc nhiên theo Điều 252 Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 khi tiến hành nghiên cứu khoa học biển tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam. Đối với doanh nghiệp, tổ chức tư nhân và cá nhân nước ngoài, đại biểu đề xuất phải có văn bản chấp thuận theo quy định.

Liên quan đến việc đình chỉ hoặc chấm dứt hoạt động nghiên cứu, đại biểu đề nghị áp dụng nguyên tắc tương xứng với tính chất, mức độ vi phạm.

Theo đó, đối với vi phạm có thể khắc phục, trước hết cần yêu cầu khắc phục; chỉ áp dụng biện pháp đình chỉ hoặc chấm dứt khi vi phạm nghiêm trọng, làm thay đổi cơ bản nội dung nghiên cứu hoặc không được khắc phục đúng thời hạn.

Theo đại biểu, quy định như vậy sẽ tránh tình trạng những sai sót thủ tục nhỏ dẫn đến đình chỉ cả một chương trình nghiên cứu quốc tế, đồng thời bảo đảm yêu cầu quản lý và tạo điều kiện mở rộng hợp tác khoa học.

Đối với Điều 18, đại biểu đồng tình với hướng quy định chỉ yêu cầu xin ý kiến trước khi công bố hoặc chuyển giao cho bên thứ ba đối với kết quả nghiên cứu trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa có liên quan trực tiếp đến thăm dò, khai thác tài nguyên.

Các đại biểu tham dự phiên họpVQK_6965
Các đại biểu tham dự phiên họp. Ảnh: Quang Khánh

Tuy nhiên, đại biểu đề nghị làm rõ nội hàm của cụm từ “liên quan trực tiếp”. Theo đó, phạm vi này nên được xác định đối với những dữ liệu có khả năng trực tiếp xác định vị trí, trữ lượng, chất lượng, khả năng khai thác hoặc công nghệ khai thác một nguồn tài nguyên cụ thể.

Đối với các dữ liệu nghiên cứu khoa học cơ bản khác, nếu không thuộc bí mật nhà nước, không ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh và không trực tiếp phục vụ khai thác tài nguyên, đại biểu đề nghị tạo điều kiện công bố, chia sẻ.

Theo đại biểu Nguyễn Thị Minh Tú, cách tiếp cận này phù hợp với Điều 249 Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982, vừa bảo đảm quyền của quốc gia ven biển đối với kết quả nghiên cứu có ý nghĩa trực tiếp đối với thăm dò, khai thác tài nguyên, vừa thúc đẩy công bố, phổ biến tri thức khoa học biển.

Đồng thời, đại biểu đề nghị quy định thời hạn xử lý cụ thể đối với thủ tục chấp thuận công bố kết quả nghiên cứu. Nếu chỉ quy định phải được chấp thuận mà không xác định thời hạn giải quyết, có thể dẫn đến việc kéo dài quá trình xem xét, ảnh hưởng đến hoạt động nghiên cứu và hợp tác khoa học.

    Dữ liệu phải bảo đảm khả năng truy xuất nguồn gốc
    • Mặc định