Đột phá thể chế, nâng tầm du lịch Việt Nam
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang xây dựng dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù. Dự thảo nghị quyết quy định chính sách ưu đãi các dự án du lịch động lực, ưu đãi mô hình kinh doanh du lịch, ưu tiên phát triển hạ tầng dịch vụ du lịch... Những chính sách này được kỳ vọng tạo thêm dư địa, khơi thông nguồn lực cho du lịch Việt Nam phát triển bứt phá.
Việt Nam có lợi thế lớn về tài nguyên thiên nhiên, văn hóa, con người và vị trí địa - kinh tế, nhưng những lợi thế ấy chưa được chuyển hóa tương xứng thành giá trị kinh tế và năng lực cạnh tranh. Du lịch dù đã có bước phát triển rất đáng ghi nhận, song vẫn còn những điểm nghẽn về cơ chế, chính sách. Ưu đãi đầu tư chưa thực sự phù hợp với các dự án quy mô lớn, vốn đầu tư cao, thời gian thu hồi dài và có sức lan tỏa lớn. Doanh nghiệp còn gặp khó trong đầu tư cho đào tạo nhân lực, ngoại ngữ, kỹ năng số, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường quốc tế. Cơ chế hỗ trợ chưa theo sát chi phí thực tế và chưa tạo đủ động lực để doanh nghiệp đầu tư dài hạn vào chất lượng, năng lực cạnh tranh. Trong khi đó, những mô hình mới như du lịch dài ngày, làm việc từ xa, du lịch cộng đồng, trải nghiệm tại làng nghề, vùng nông nghiệp chưa được hỗ trợ bởi một hành lang chính sách đủ linh hoạt... Đây là những những điểm nghẽn cần được tháo gỡ để biến tiềm năng du lịch thành sức mạnh kinh tế thực chất.
Nhằm gỡ những nút thắt này, dự thảo Nghị quyết đã quy định những điều kiện cũng như chính sách ưu đãi cụ thể đối dự án du lịch động lực có quy mô, tính chất quan trọng, có khả năng tạo đột phá phát triển, thúc đẩy liên kết ngành, liên kết vùng, thu hút nguồn lực đầu tư, tạo hiệu ứng lan tỏa lớn. Theo đó, các doanh nghiệp có dự án du lịch động lực này được áp dụng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 10% trong 10 năm đối với thu nhập từ hoạt động đủ điều kiện; được giảm 50% số thuế phải nộp khác ngoài thuế thu nhập doanh nghiệp trong 5 năm đầu tiên...
Tuy nhiên, để bảo đảm nguồn lực được đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, các dự án du lịch động lực được đề xuất hưởng ưu đãi phải đáp ứng những điều kiện cụ thể: đầu tư tạo sản phẩm du lịch mới tại cơ sở hoặc dự án đầu tư nâng cấp làm tăng ít nhất 20% năng lực cung ứng sản phẩm chính so với bình quân năm liền trước khi đầu tư; đầu tư mới tạo ít nhất 300 việc làm trực tiếp thường xuyên; dự án đầu tư mở rộng tạo thêm ít nhất 100 việc làm trực tiếp thường xuyên so với bình quân 3 năm liền trước khi đầu tư; từ năm hoạt động thứ ba, doanh thu từ sản phẩm mới phải chiếm ít nhất 30% tổng doanh thu của phần dự án được ưu đãi...
Việc quy định cụ thể điều kiện này có ý nghĩa rất quan trọng, tránh ưu đãi dàn trải, hiệu quả lan tỏa chính sách chưa tương xứng. Điều đó cho thấy, cơ chế, chính sách ưu đãi không đơn thuần được nhìn nhận là một “phần thưởng” cho việc doanh nghiệp cứ bỏ vốn đầu tư là được hưởng, mà phải gắn với kết quả đầu ra của dự án. Nhà nước có chính sách hỗ trợ để doanh nghiệp tạo thêm sản phẩm, việc làm và giá trị mới cho nền kinh tế.
Một ngành kinh tế mũi nhọn không thể chỉ dựa vào tài nguyên và cơ sở vật chất. Năng lực cạnh tranh cuối cùng vẫn nằm ở con người, chất lượng dịch vụ và thương hiệu quốc gia. Nhằm xây dựng đội ngũ nhân lực du lịch đáp ứng yêu cầu cả về số lượng và chất lượng, vững về chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, theo kịp sự phát triển công nghệ và chủ động, tự tin trong hội nhập quốc tế, dự thảo Nghị quyết cũng quy định chính sách ưu đãi dành cho doanh nghiệp đào tạo nhân lực và phát triển thương hiệu du lịch. Chính sách này có ý nghĩa rất quan trọng, bởi đầu tư cho nhân lực và thương hiệu phải được coi là đầu tư phát triển. Nếu chỉ hỗ trợ đầu tư cơ sở vật chất mà thiếu nhân lực có ngoại ngữ, kỹ năng số, khả năng phục vụ khách quốc tế và tư duy quản trị hiện đại thì khó chuyển lợi thế thành doanh thu và sức cạnh tranh của ngành du lịch.
Cơ chế, chính sách đặc thù là cần thiết để tạo dư địa và động lực mới cho du lịch phát triển. Tuy nhiên, đi cùng với các chính sách ưu tiên, ưu đãi phải có cơ chế thanh tra, kiểm tra chặt chẽ, bảo đảm chính sách được thực thi đúng mục tiêu, công khai, minh bạch; ngăn ngừa trục lợi chính sách, gây thất thoát và lãng phí.
Khi không gian pháp lý được mở rộng, chính sách ưu đãi đủ mạnh và việc thực thi được kiểm soát chặt chẽ, du lịch Việt Nam sẽ có thêm một “cú hích” để bứt phá, nâng cao sức cạnh tranh và đóng góp ngày càng lớn vào tăng trưởng của đất nước.

