Hoạt động của Đoàn ĐBQH

Đơn giản hóa quy trình lập pháp phải đi đôi với bảo đảm chất lượng chính sách

Trang Nhung; Ảnh: Lâm Hiển • 23/10/2026 21:40

Thảo luận tại Tổ 3 (gồm Đoàn ĐBQH TP. Hải Phòng, Lạng Sơn và Hà Tĩnh) ngày 23/10 về dự án Luật Văn bản quy phạm pháp luật, các ĐBQH TP. Hải Phòng đề nghị cân nhắc giữ khâu thẩm định chính sách đối với những dự án có tác động lớn; quy định chặt chẽ việc ban hành pháp lệnh, nghị định để điều chỉnh quy định của luật; đồng thời, hạn chế ban hành văn bản sửa đổi, bổ sung một số điều.

Giữ thẩm định chính sách, tháo gỡ xung đột pháp luật

Toàn cảnh phiên thảo luận tại Tổ 3 sáng 23/10
Toàn cảnh phiên thảo luận tại Tổ 3 sáng 23/10 Ảnh: Lâm Hiển

Tham gia góp ý về dự án Luật, ĐBQH Nguyễn Thị Việt Nga (TP. Hải Phòng) đánh giá đây là đạo luật có tác động đến chất lượng của cả hệ thống pháp luật. Do đó, bên cạnh yêu cầu rút ngắn thời gian xây dựng văn bản, cần đặc biệt quan tâm đến chất lượng quyết định chính sách, tính thống nhất trong áp dụng pháp luật và trách nhiệm xử lý những vướng mắc phát sinh từ thực tiễn.

Về quy trình xây dựng chính sách, đại biểu cho biết dự thảo không tiếp tục quy định bước thẩm định chính sách mà thay bằng trách nhiệm góp ý bằng văn bản của các bộ, cơ quan theo lĩnh vực phụ trách.

ĐBQH Nguyễn Thị Việt Nga (TP. Hải Phòng) phát biểu tại Tổ 3
ĐBQH Nguyễn Thị Việt Nga (TP. Hải Phòng) phát biểu tại Tổ 3

Cho rằng giảm thủ tục trùng lặp song đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga nhấn mạnh cần đánh giá tổng thể tính thống nhất, khả thi của các giải pháp chính sách.

Đại biểu đề nghị cân nhắc giữ khâu thẩm định chính sách đối với những dự án có tác động lớn đến quyền con người, quyền công dân, ngân sách nhà nước, tổ chức bộ máy hoặc liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực. Đồng thời, đề nghị quy định mọi thay đổi chính sách có tác động đáng kể trong quá trình tiếp thu, chỉnh lý đều phải cập nhật đánh giá tác động, kể cả trường hợp chính sách được thay đổi theo quyết định của cấp có thẩm quyền.

Liên quan đến nguyên tắc áp dụng pháp luật, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga phân tích một dự án đầu tư, một giao dịch hoặc một thủ tục thường đồng thời chịu sự điều chỉnh của nhiều luật, trong khi mỗi cơ quan đều có căn cứ cho cách áp dụng của mình. Do đó, bên cạnh nguyên tắc lựa chọn quy định áp dụng, cần có cơ chế xử lý khi các cơ quan vẫn không thống nhất với đầu mối tiếp nhận, thẩm quyền kết luận và thời hạn giải quyết rõ ràng.

"Đối với địa phương, yêu cầu rất thiết thực là khi gặp xung đột giữa các quy định, phải biết gửi đến đâu, trong thời gian nào được trả lời và công việc đang giải quyết được xử lý ra sao trong thời gian chờ. Cần tránh để người dân, doanh nghiệp phải tự đi xin ý kiến nhiều cơ quan về cùng một vấn đề", đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga nhấn mạnh.

Quy định chặt chẽ việc điều chỉnh luật bằng văn bản dưới luật

Góp ý về cơ chế ban hành pháp lệnh, nghị định để điều chỉnh quy định của luật, ĐBQH Nguyễn Ngọc Sơn (TP. Hải Phòng) ghi nhận dự thảo đã thu hẹp phạm vi áp dụng, chỉ còn áp dụng trong trường hợp khẩn cấp, cấp bách mà Quốc hội không thể họp. Tuy nhiên, theo đại biểu, thẩm quyền làm luật và sửa đổi luật thuộc về Quốc hội theo khoản 1 Điều 70 Hiến pháp, vì vậy cơ chế này cần được quy định chặt chẽ hơn.

ĐBQH Nguyễn Ngọc Sơn (TP. Hải Phòng) phát biểu tại Tổ 3
ĐBQH Nguyễn Ngọc Sơn (TP. Hải Phòng) phát biểu tại Tổ 3 Ảnh: Lâm Hiển

Đại biểu đề nghị quy định rõ văn bản được ban hành theo cơ chế này chỉ được miễn, giảm, gia hạn hoặc tạm ngưng, không được đặt thêm nghĩa vụ hay hạn chế quyền; đồng thời loại trừ các lĩnh vực như thuế, tổ chức bộ máy, tội phạm và hình phạt. Thay vì để văn bản tiếp tục có hiệu lực không thời hạn khi Quốc hội chưa họp được, việc gia hạn hiệu lực chỉ được thực hiện khi có xác nhận lại của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Trình tự ban hành nghị định trong trường hợp này phải do luật quy định.

Đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn cũng đề nghị không bỏ hẳn khâu thẩm định chính sách mà thu gọn, thực hiện song song với việc lấy ý kiến. Về xử lý xung đột pháp luật, đại biểu phân tích: “Trường hợp cùng bậc, khác chủ thể ban hành mà quy định khác nhau thì chưa có nguyên tắc rõ. Khoản 5 Điều 56 chuyển sang giải thích nhưng không có thời hạn. Đối với doanh nghiệp, xung đột quy định là chi phí lớn nhất".

Từ đó, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn đề nghị bổ sung nguyên tắc ưu tiên văn bản của cơ quan được giao quản lý lĩnh vực đó, đồng thời quy định thời hạn trả lời khi không xác định được văn bản áp dụng.

Hạn chế ban hành luật sửa đổi, bổ sung một số điều

Cùng quan tâm đến cơ chế này, ĐBQH Nguyễn Thị Mai Thoa (TP. Hải Phòng) đề nghị quy định rõ ràng ngay trong luật các căn cứ, tiêu chí để thực hiện. Theo đại biểu, phạm vi áp dụng chưa thống nhất ngay trong dự thảo, bởi khoản 6 Điều 12 và khoản 7 Điều 14 quy định hai trường hợp độc lập: khẩn cấp, cấp bách mà Quốc hội không thể họp được; và điều chỉnh nội dung mang tính kỹ thuật để giải quyết ngay vấn đề phát sinh trong thực tiễn.

“Tuy nhiên, các điều 50, 51 và 52 chỉ quy định điều kiện, trình tự và thời hạn hiệu lực cho trường hợp thứ nhất. Trường hợp thứ hai không gắn với điều kiện Quốc hội không thể họp, không có tiêu chí nhận diện, không có trình tự và không giới hạn thời hạn hiệu lực, nên có thể trở thành ‘kênh’ thường xuyên để sửa đổi luật bằng văn bản dưới luật”, đại biểu nêu rõ.

ĐBQH Nguyễn Thị Mai Thoa (TP. Hải Phòng) phát biểu tại tổ 3
ĐBQH Nguyễn Thị Mai Thoa (TP. Hải Phòng) phát biểu tại tổ 3 Ảnh: Lâm Hiển

Đại biểu cũng lưu ý, Hiến pháp quy định quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật. Trong khi đó, theo dự thảo, việc xây dựng, ban hành pháp lệnh theo cơ chế này được áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn, không qua quy trình chính sách và lấy ý kiến rộng rãi. Đối với lĩnh vực văn hóa, xã hội, việc điều chỉnh luật theo cách này có thể tác động trực tiếp đến quyền, lợi ích của trẻ em, người khuyết tật, người cao tuổi, người lao động mà các đối tượng này không có cơ hội tham gia ý kiến.

Về hình thức văn bản, đại biểu Nguyễn Thị Mai Thoa cho biết, để đáp ứng yêu cầu hoàn thiện thể chế phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, số lượng văn bản pháp luật sửa đổi, bổ sung hiện nay rất lớn. Nhiều trường hợp số điều được sửa đổi, bổ sung vượt quá 50% tổng số điều; ngay cả với những văn bản có số lượng điều lớn, dù chỉ sửa chưa tới 50% thì số điều, khoản cần sửa đổi, bổ sung cũng rất nhiều.

Khi đó, việc trình bày, theo dõi nội dung theo hình thức sửa đổi, bổ sung một số điều gặp nhiều khó khăn, khó bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất ngay trong dự thảo luật. Không chỉ vậy, theo quy định mới của Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan chủ trì soạn thảo còn phải trình dự thảo văn bản hợp nhất ngay trong quá trình soạn thảo, làm gia tăng đáng kể khối lượng công việc và chi phí về ngân sách, nhân lực.

Vì vậy, theo đại biểu, với những văn bản được sửa đổi, bổ sung nhiều điều, khoản, việc xem xét một văn bản thay thế sẽ dễ dàng, hiệu quả và thuận tiện hơn.

Theo đại biểu, cần hạn chế việc ban hành văn bản sửa đổi, bổ sung một số điều, do đó, đề nghị quy định nguyên tắc chỉ ban hành văn bản sửa đổi, bổ sung khi nội dung sửa đổi mang tính đơn lẻ, cấp bách, về cơ bản chỉ nên ban hành văn bản luật thay thế. Điều này cũng phù hợp với chủ trương đơn giản hóa hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, đại biểu Nguyễn Thị Mai Thoa nhấn mạnh.

    Đơn giản hóa quy trình lập pháp phải đi đôi với bảo đảm chất lượng chính sách
    • Mặc định