Ý kiến đại biểu

Độc quyền nhà nước cần được kiểm soát, rà soát và đánh giá định kỳ

H.Nga • 20/10/2026 21:38

Thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 4 luật gồm Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh, Luật Quản lý ngoại thương và Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, ĐBQH Nguyễn Như So (TP. Bắc Ninh) cho rằng, việc sửa đổi đồng thời các luật có tác động sâu rộng đến hoạt động kinh tế - xã hội cần được rà soát kỹ lưỡng, bảo đảm tính thống nhất, khả thi, không tạo thêm khoảng trống pháp lý.

Không để độc quyền trở thành rào cản cạnh tranh

ĐBQH Nguyễn Như So bày tỏ tán thành chủ trương sửa đổi, bổ sung một số điều của 4 đạo luật quan trọng về thương mại, cạnh tranh, quản lý ngoại thương và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo Tờ trình số 712/TTr-CP ngày 18/9/2026.

Theo đại biểu, việc tích hợp sửa đổi 4 đạo luật cùng lúc thể hiện quyết tâm tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cắt giảm thủ tục hành chính, hướng tới xây dựng môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng và linh hoạt hơn. Tuy nhiên, đây đều là những đạo luật tác động trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp, người tiêu dùng và thị trường, do đó yêu cầu đặt ra là phải bảo đảm tính thống nhất, khả thi và không phát sinh khoảng trống pháp lý mới.

Các đại biểu tham dự phiên thảo luận tại Tổ 7. Ảnh: Tiến Cường
ĐBQH Nguyễn Như So và các đại biểu tham dự phiên thảo luận tại Tổ 7. Ảnh: Tiến Cường

Góp ý về sửa đổi Luật Thương mại, đại biểu Nguyễn Như So đề nghị cân nhắc kỹ việc dự thảo bỏ quy định “có thời hạn” đối với độc quyền nhà nước tại khoản 4 Điều 6. Theo đại biểu, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, độc quyền nhà nước có thể cần thiết trong một số lĩnh vực nhằm bảo vệ quốc phòng, an ninh và lợi ích quốc gia. Tuy nhiên, việc xác lập độc quyền đồng thời tác động đến quyền tự do kinh doanh và cạnh tranh trên thị trường. Vì vậy, bên cạnh căn cứ xác lập, cần có cơ chế giới hạn và kiểm soát trong suốt thời gian duy trì độc quyền.

Từ thực tiễn quản lý thị trường vàng, đại biểu cho rằng chính sách cần có khả năng được rà soát, điều chỉnh khi điều kiện thị trường thay đổi. Một cơ chế quản lý phù hợp ở giai đoạn này chưa chắc còn tối ưu ở giai đoạn khác.

“Nếu bỏ yêu cầu về thời hạn mà không thiết lập cơ chế rà soát tương ứng, độc quyền có nguy cơ tồn tại theo quán tính quản lý, ngay cả khi căn cứ thực tiễn để duy trì đã thay đổi”, đại biểu nêu.

Theo đó, công cụ được thiết lập để bảo vệ lợi ích quốc gia có thể trở thành rào cản đối với cạnh tranh, đổi mới sáng tạo và huy động nguồn lực xã hội nếu không được kiểm soát phù hợp. ĐBQH Nguyễn Như So đề nghị giữ nguyên yêu cầu độc quyền nhà nước phải có thời hạn. Trường hợp không quy định một thời hạn cụ thể trong Luật Thương mại, cần thiết lập cơ chế rà soát định kỳ với tiêu chí đánh giá, thẩm quyền và trách nhiệm rõ ràng. Theo đại biểu, độc quyền không nhất thiết phải chấm dứt sau một khoảng thời gian cố định, nhưng việc tiếp tục duy trì phải dựa trên cơ sở chứng minh được sự cần thiết.

Liên quan đến quy định về hạn mức tối đa đối với giá trị khuyến mại và mức giảm giá tại khoản 2 Điều 1 của dự thảo sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 94 Luật Thương mại, đại biểu cho rằng, trong bối cảnh kinh tế số và thương mại điện tử phát triển nhanh, việc áp dụng một mức trần khuyến mại theo mệnh lệnh hành chính có thể không còn phù hợp với thực tế vận hành của thị trường. Hoạt động khuyến mại trên các nền tảng thương mại điện tử hiện được triển khai theo từng thời điểm, chiến dịch và nhóm khách hàng; giá trị ưu đãi có thể được hình thành từ sự tham gia của nhiều chủ thể như người bán, sàn giao dịch và đơn vị thanh toán.

Theo đại biểu, một mức trần cứng có thể làm giảm tính linh hoạt của doanh nghiệp, đồng thời khó bao quát các phương thức kinh doanh và kích cầu mới. Với lượng lớn hàng hóa và giao dịch phát sinh trên các nền tảng trực tuyến, việc cơ quan quản lý kiểm tra, bóc tách giá trị thực của từng chương trình, quà tặng hay phần trăm giảm giá sẽ đòi hỏi nguồn lực rất lớn.

Trong khi đó, việc áp trần chưa chắc xử lý được bản chất của gian lận khuyến mại. Doanh nghiệp có thể điều chỉnh giá niêm yết trước khi giảm hoặc thiết kế ưu đãi dưới các hình thức khác nhau, khiến mức giảm thể hiện trên giấy tờ vẫn nằm trong giới hạn nhưng giá trị ưu đãi thực tế không phản ánh đúng bản chất.

Vì vậy, đại biểu đề nghị chuyển trọng tâm quản lý từ kiểm soát cứng mức giảm giá sang bảo đảm tính trung thực của giá niêm yết, thông tin khuyến mại và xử lý hành vi gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng; đồng thời kết hợp hậu kiểm, dữ liệu số và chế tài đủ sức răn đe đối với hành vi gian lận.

Không bãi bỏ cơ học quy định về hợp đồng thương mại

Đối với đề xuất bãi bỏ các quy định về hợp đồng và toàn bộ Chương VII Luật Thương mại, ĐBQH Nguyễn Như So đề nghị rà soát thận trọng, không thực hiện theo hướng loại bỏ cơ học chỉ vì một số quy định có sự tương đồng với Bộ luật Dân sự.

Theo đại biểu, Bộ luật Dân sự là luật khung, đặt ra những nguyên tắc chung cho quan hệ dân sự, trong khi giao dịch thương mại có những đặc thù về tốc độ luân chuyển hàng hóa, dòng tiền, giá trị giao dịch, số lượng chủ thể tham gia cũng như mức độ và tốc độ phát sinh rủi ro.

Do đó, các quy định chuyên biệt về địa điểm giao hàng, chuyển rủi ro, kiểm tra hàng hóa, thời hạn khiếu nại... có vai trò quan trọng trong việc xác định quyền, nghĩa vụ và phân bổ rủi ro giữa các bên ngay từ thời điểm giao kết hợp đồng.

“Nếu bỏ toàn bộ các quy định này mà không có quy định thay thế, chi phí đàm phán hợp đồng sẽ tăng, doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể chịu bất lợi, trong khi cơ quan giải quyết tranh chấp cũng gặp khó khăn khi xác định căn cứ áp dụng”, đại biểu phân tích.

Đại biểu Nguyễn Như So cũng lưu ý các quy định thương mại hiện hành của Việt Nam được xây dựng theo hướng tương thích với Công ước Viên năm 1980 và thông lệ quốc tế. Việc bãi bỏ đột ngột những quy định đặc thù có thể ảnh hưởng đến tính thống nhất của pháp luật thương mại trong quá trình hội nhập.

Quang cảnh phiên thảo luận tại Tổ 7. Ảnh: Tiến Cường
Quang cảnh phiên thảo luận tại Tổ 7. Ảnh: Tiến Cường

Từ đó, đại biểu đề nghị rà soát toàn diện theo hướng chỉ loại bỏ những quy định thực sự trùng lặp, đồng thời giữ lại và hoàn thiện các quy tắc đặc thù cần thiết cho hoạt động thương mại.

Theo đại biểu, mục tiêu sửa luật không chỉ là giảm số lượng quy định mà quan trọng hơn là xây dựng hệ thống pháp luật rõ ràng, ổn định, dễ áp dụng, đủ khả năng phân định trách nhiệm và phân bổ rủi ro trong các giao dịch kinh doanh.

Với Luật Quản lý ngoại thương, ĐBQH Nguyễn Như So đánh giá việc dự thảo phân cấp thẩm quyền cấp phép xuất khẩu, nhập khẩu ngoại lệ đối với hàng hóa thuộc diện tạm ngừng từ Bộ trưởng Bộ Công Thương về UBND cấp tỉnh là bước tiến về thể chế, phù hợp với yêu cầu phân cấp, phân quyền theo hướng địa phương quyết định, tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm.

Tuy nhiên, để cơ chế này vận hành thực chất, đại biểu đề nghị chuẩn hóa quy trình một cửa và cơ chế phối hợp giữa địa phương với các bộ quản lý chuyên ngành.

Theo đó, Sở Công Thương cần được xác định là đầu mối duy nhất tại địa phương tiếp nhận hồ sơ. Trường hợp phải lấy ý kiến bộ quản lý chuyên ngành, luật cần quy định thời hạn trả lời tối đa không quá 5 ngày. Hết thời hạn mà không có ý kiến thì coi như đồng ý, nhằm tránh tình trạng hồ sơ của doanh nghiệp phải luân chuyển, chờ đợi giữa Trung ương và địa phương.

Đại biểu đồng thời đề nghị bắt buộc liên thông dữ liệu giữa cơ quan cấp phép và cơ quan Hải quan. Các giấy phép do UBND cấp tỉnh cấp cần được tích hợp ngay lên Cổng thông tin một cửa quốc gia để cơ quan Hải quan trên toàn quốc có thể kiểm soát khi thực hiện thủ tục thông quan. Cùng với đó, Bộ Công Thương cần thực hiện hậu kiểm, kiểm tra định kỳ và có thẩm quyền đình chỉ, thu hồi giấy phép nếu phát hiện việc cấp phép của địa phương không đúng quy định,…

    Độc quyền nhà nước cần được kiểm soát, rà soát và đánh giá định kỳ
    • Mặc định