Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Ngãi: Kiến nghị hoàn thiện chính sách di dời khẩn cấp, bảo đảm sinh kế vùng nguy cơ sạt lở, lũ quét
Qua giám sát công tác phân vùng nguy cơ, phòng, chống sạt lở đất, lũ quét và bố trí ổn định dân cư, Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Ngãi kiến nghị hoàn thiện chính sách di dời khẩn cấp, ưu tiên nguồn lực xử lý các khu vực xung yếu, hiện đại hóa cảnh báo sớm, bảo đảm sinh kế tại nơi ở mới.
Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Ngãi vừa ban hành Báo cáo số 317/BC-ĐĐBQH về kết quả giám sát chuyên đề công tác phân vùng nguy cơ, lập phương án phòng, chống sạt lở đất, lũ quét và bố trí ổn định dân cư vùng thiên tai trên địa bàn tỉnh.
Kết quả giám sát cho thấy, bên cạnh những nỗ lực về huy động nguồn lực và tổ chức ứng phó, công tác phòng, chống thiên tai vẫn còn những hạn chế về quy hoạch, hạ tầng, trang thiết bị và tiến độ triển khai các công trình cấp bách.
Nhận diện những bất cập cần tháo gỡ
Sau khi sắp xếp đơn vị hành chính, Quảng Ngãi có 96 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó 58 xã miền núi tiềm ẩn nguy cơ cao về sạt lở đất, lũ quét; 13 xã, phường, đặc khu ven biển chịu ảnh hưởng trực tiếp của triều cường, sóng lớn.

Giai đoạn 2024–2026, các cấp, ngành tỉnh Quảng Ngãi đã triển khai phương châm “4 tại chỗ”, bố trí ổn định dân cư theo ba hình thức: tập trung, xen ghép và tại chỗ. Tổng kế hoạch vốn huy động đạt khoảng 1.300 tỷ đồng; riêng giai đoạn 2024–2025 đã giải ngân 688,8 tỷ đồng, đạt 84,3%. Quỹ Phòng, chống thiên tai tỉnh thu được 24,7 tỷ đồng để hỗ trợ các tình huống cấp bách. Mạng lưới 116 trạm quan trắc đo mưa, mực nước và cảnh báo ngập cũng được vận hành, tự động cập nhật dữ liệu 10 phút/lần.
Tuy nhiên, theo kết quả giám sát, công tác phân vùng nguy cơ và cảnh báo thiên tai vẫn cần được hoàn thiện. Bản đồ phân vùng nguy cơ tại một số vùng cao chưa chi tiết đến tận thôn, bản; hệ thống thông tin chưa có ứng dụng di động để người dân trực tiếp theo dõi. Việc hoàn thiện dữ liệu và tăng khả năng tiếp cận thông tin cảnh báo là yêu cầu đặt ra đối với công tác phòng ngừa từ cơ sở.
Một vấn đề khác là điều kiện bố trí dân cư chưa bảo đảm đồng bộ giữa chỗ ở và sinh kế. Tại một số khu tái định cư, người dân còn thiếu đất sản xuất, nước sinh hoạt và hạ tầng giao thông. Việc ổn định dân cư vì vậy cần đi cùng giải quyết các điều kiện thiết yếu để người dân duy trì cuộc sống lâu dài tại nơi ở mới.
Trong khi đó, năng lực ứng phó tại chỗ và tiến độ đầu tư công trình còn hạn chế. Trang thiết bị cứu hộ, cứu nạn ở cơ sở còn thiếu; thông tin liên lạc tại một số vùng lõm sóng có thể bị gián đoạn khi thiên tai chia cắt địa bàn. Tiến độ giải ngân vốn đầu tư công tại một số công trình kè chống sạt lở, tái định cư cấp bách còn chậm do vướng thủ tục, bồi thường và giải phóng mặt bằng.
Thực tiễn tại xã Sơn Hà cho thấy rõ yêu cầu xử lý những vấn đề này. Địa phương có địa hình đồi núi cao, dốc, bị chia cắt bởi nhiều dãy núi, khe suối và lưu vực sông. Qua rà soát, xã có 4 khu vực xung yếu với nguy cơ sạt lở cao, đe dọa trên 80 hộ dân với hơn 300 nhân khẩu. Tại buổi làm việc với Đoàn giám sát, địa phương phản ánh khó khăn trong triển khai các dự án tái định cư tập trung, hạn chế về kinh phí xây dựng công trình chống sạt lở và trang thiết bị cứu hộ chuyên dụng cấp xã.
Từ thực tiễn khảo sát, Đoàn giám sát nhấn mạnh yêu cầu các cấp, ngành không được chủ quan trước diễn biến phức tạp của mùa mưa lũ; phải đặt an toàn tính mạng của Nhân dân lên trên hết, trước hết, đồng thời chủ động xử lý các vị trí nguy hiểm và tháo gỡ vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện.
Ưu tiên nguồn lực xử lý các khu vực xung yếu, nguy hiểm
Để nâng cao hiệu quả phòng, chống thiên tai, Đoàn ĐBQH tỉnh kiến nghị Quốc hội, Chính phủ đơn giản hóa thủ tục đất đai, lâm nghiệp trong trường hợp di dời dân khẩn cấp; điều chỉnh mức hỗ trợ di dời, làm nhà ở sát với giá cả thị trường thực tế. Các kiến nghị này hướng đến tháo gỡ khó khăn về thủ tục và điều kiện hỗ trợ khi phải khẩn trương đưa người dân ra khỏi khu vực không an toàn.

Về phân bổ nguồn lực, Đoàn đề nghị UBND tỉnh phân loại khu dân cư theo ba nhóm: khu vực có thể bảo đảm an toàn bằng công trình; khu vực cần kết hợp công trình với sơ tán; khu vực có nguy cơ cao phải ưu tiên di dời. Trên cơ sở đó, bố trí vốn có trọng tâm, tránh dàn trải, ưu tiên xử lý các vị trí xung yếu đe dọa trực tiếp đến tính mạng và tài sản của người dân; kiên quyết di dời các hộ dân nằm trong vùng nguy cơ sạt lở cao đến nơi an toàn, không vì thói quen hay nguyện vọng riêng của một bộ phận người dân mà lơ là công tác bảo vệ an toàn.
Đối với các công trình phòng, chống sạt lở, Đoàn kiến nghị tháo gỡ vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ thi công tại những vị trí xung yếu như núi Làng Bồ, núi Bà, suối Nước Nia và núi Hà Lềnh. Các sở, ngành chuyên môn và ban quản lý dự án cần phối hợp chặt chẽ với địa phương để giải quyết những khó khăn trong quá trình triển khai.
Cùng với bảo đảm nơi ở an toàn, kết quả giám sát nhấn mạnh yêu cầu gắn tái định cư với sinh kế bền vững. Các địa phương cần đẩy nhanh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại khu tái định cư, bảo đảm đất sản xuất, nước sinh hoạt và điều kiện an sinh cho người dân. Đây là những điều kiện cần thiết để người dân ổn định cuộc sống lâu dài sau di dời.
Về cảnh báo sớm và năng lực ứng trực, Đoàn kiến nghị hoàn thiện cơ sở dữ liệu số, phát triển ứng dụng di động để chính quyền và người dân tiếp cận thông tin, nhận cảnh báo thiên tai theo thời gian thực. Các địa phương cần rà soát, bổ sung trang thiết bị cứu hộ, bảo đảm thông tin liên lạc thông suốt khi địa bàn bị chia cắt.
Thông qua giám sát, Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Ngãi kiến nghị tập trung tháo gỡ vướng mắc về chính sách, thủ tục và đầu tư; ưu tiên xử lý các khu vực nguy hiểm, nâng cao năng lực cảnh báo, đồng thời bảo đảm điều kiện sống tại nơi tái định cư. Trọng tâm là chủ động quản lý rủi ro thiên tai, bảo vệ tính mạng, tài sản và sinh kế lâu dài của người dân vùng có nguy cơ sạt lở, lũ quét.

