Công nghệ chiến lược phải đo bằng kết quả cụ thể
Phát triển mạnh công nghệ chiến lược, có kết quả cụ thể trong năm 2026, không chạy theo phong trào. Đẩy mạnh thực chất mô hình hợp tác "3 nhà" (Nhà nước - Viện/Trường - Doanh nghiệp) có kết quả cụ thể trong năm 2026; chuyển từ nghiên cứu phân tán sang đặt hàng theo bài toán lớn, có sản phẩm cụ thể, thị trường cụ thể, có cơ chế tài chính đặc thù, chấp nhận rủi ro có kiểm soát.
Đây là nhấn mạnh của Thủ tướng Lê Minh Hưng - Trưởng Ban Chỉ đạo của Chính phủ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06 tại Phiên họp lần thứ ba năm 2026 của Ban Chỉ đạo.
Những năm gần đây, khoa học, công nghệ, chuyển đổi số quốc gia là vấn đề được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Nhiều chủ trương, chính sách, văn bản luật, nghị quyết đã được ban hành kịp thời với những cơ chế, chính sách ưu đãi, đặc thù tạo “đòn bẩy” để thúc đẩy lĩnh vực này phát triển. Không ít doanh nghiệp công nghiệp trong nước đã từng bước tham gia vào lĩnh vực có giá trị gia tăng cao như: Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel), đây là đơn vị tiên phong về mạng viễn thông và các giải pháp an toàn thông tin; Tập đoàn FPT - Tập đoàn công nghệ toàn cầu, nổi bật với FPT Software và các nền tảng AI như FPT AI;... Cùng với đó, nhiều tập đoàn, doanh nghiệp nước ngoài đã chọn Việt Nam là điểm đến để hoạt động về lĩnh vực khoa học, công nghệ. Trong đó, có các tập đoàn công nghệ toàn cầu như: Samsung, LG, Intel đặt các nhà máy sản xuất chip, thiết bị điện tử hoặc trung tâm Nghiên cứu và Phát triển (R&D) quy mô lớn tại Việt Nam...

Xác định rõ tầm quan trọng của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, đặc biệt là công nghệ chiến lược, do đó một trong những nhiệm vụ trọng tâm được Đảng ta xác định trong nhiệm kỳ Đại hội XIV là tập trung triển khai đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tạo nền tảng cho phát triển lực lượng sản xuất mới, hiện đại, ưu tiên phát triển một số ngành công nghiệp, công nghệ chiến lược, trọng tâm là chip bán dẫn, trí tuệ nhân tạo.
Mới đây, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Danh mục công nghệ chiến lược và Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược. Theo đó, Việt Nam có 10 nhóm công nghệ chiến lược gồm: Công nghệ số (trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, bản sao số, điện toán đám mây, điện toán biên, Internet vạn vật và chuỗi khối); Công nghệ mạng di động thế hệ sau; Công nghệ robot và tự động hóa; Công nghệ sinh học và y sinh tiên tiến; Công nghệ năng lượng và vật liệu tiên tiến; Công nghệ chip bán dẫn; Công nghệ an ninh mạng và lượng tử; Công nghệ biển, đại dương và lòng đất; Công nghệ hàng không và vũ trụ; Công nghệ đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị. Cùng với đó, là 30 nhóm sản phẩm công nghệ chiến lược.
Việc định danh rõ Danh mục công nghệ chiến lược và Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược sẽ giúp cho việc triển khai, đầu tư và dành nguồn lực cho lĩnh vực này có trọng tâm, trọng điểm, tránh việc đầu tư dàn trải kém hiệu quả.
Tại Nghị quyết Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, Quốc hội cũng yêu cầu, triển khai hiệu quả Nghị quyết Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Khẩn trương hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách, tháo gỡ dứt điểm các nút thắt, rào cản trong hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo gắn với kết quả đầu ra. Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, nhất là công nghệ mới, công nghệ cao, công nghệ chiến lược. Ưu tiên tiếp thu, chuyển giao, ứng dụng sáng tạo, làm chủ các công nghệ nền tảng, công nghệ tiên tiến, công nghệ chiến lược, công nghệ lõi, công nghệ nguồn, công nghệ số...
Nghị quyết của Đảng, Nghị quyết của Quốc hội, chỉ đạo của Thủ tướng đã rõ, giờ là lúc cần bắt tay ngay vào triển khai thực hiện. Theo đó, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế để tạo động lực phát triển công nghệ chiến lược; tạo lập cơ chế đủ hấp dẫn để thu hút sự tham gia tích cực, chủ động của các chuyên gia, các doanh nghiệp, viện, trường vào lĩnh vực này. Chính sách không thể là động lực cho công nghệ chiến lược phát triển khi doanh nghiệp tham gia lại “vướng” vào rừng thủ tục, hoặc đáp ứng quy định này, lại vướng quy định kia. Công nghệ chiến lược cũng khó phát triển khi cán bộ thực thi lại tìm cách để làm khó dễ khi doanh nghiệp tham gia vào “sân chơi” này.
Làm chủ công nghệ chiến lược chính là làm chủ vận mệnh phát triển của đất nước. Điều này đòi hỏi quyết tâm mạnh mẽ hơn bao giờ hết của cả hệ thống chính trị để Việt Nam khẳng định được vị thế trong chuỗi giá trị công nghệ toàn cầu. Muốn làm được điều đó, đòi hỏi khâu triển khai thực hiện phải thực chất, có hiệu quả cụ thể với tinh thần “rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ kết quả”, tránh tình trạng làm đối phó hay theo phong trào.

