Ý kiến đại biểu

Có đất sản xuất phù hợp để bảo đảm sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số

Diệp Anh • 29/10/2026 14:42

Thảo luận tại Hội trường sáng 29/10 về dự án Luật Đất đai (sửa đổi), ĐBQH Trần Nhật Minh (Nghệ An) đề nghị bổ sung cơ chế giải quyết đất ở, đất sản xuất người dân đã sử dụng ổn định trước khi quy hoạch rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, bảo đảm sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS); đồng thời hoàn thiện quy định xử lý tài sản gắn liền với đất tại các dự án đầu tư chậm tiến độ, tránh lãng phí nguồn lực xã hội.

Gỡ vướng về tài sản tại các dự án chậm tiến độ

Đề cập những vướng mắc trong việc thu hồi đất đối với các dự án đầu tư chậm tiến độ theo khoản 8 Điều 81 Luật Đất đai năm 2024, ĐBQH Trần Nhật Minh cho biết, qua nghiên cứu dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) và dự thảo Nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đất đai kèm theo hồ sơ dự án Luật, đại biểu nhận thấy những vướng mắc này vẫn chưa được xử lý triệt để.

ĐBQH Trần Nhật Minh (Nghệ An) phát biểu
ĐBQH Trần Nhật Minh (Nghệ An) phát biểu. Ảnh: Khánh Duy

Cụ thể, điểm b khoản 7 Điều 36 dự thảo Luật về các trường hợp thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai và Điều 61 dự thảo Nghị định về việc xác định không sử dụng đất hoặc chậm sử dụng đất mới tháo gỡ được vướng mắc về đất đai, chưa giải quyết được những vấn đề liên quan đến tài sản gắn liền với đất tại các dự án chậm tiến độ.

Đại biểu viện dẫn khoản 5 Điều 36 Luật Đầu tư hiện hành quy định: “Việc xử lý quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất khi chấm dứt hoạt động của dự án đầu tư thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai và quy định khác của pháp luật có liên quan”.

Theo đại biểu, đây là những vướng mắc khiến các địa phương còn lúng túng trong quá trình xử lý các dự án chậm tiến độ, đang triển khai dang dở, như các dự án đầu tư phát triển nhà ở. Khó khăn không chỉ nằm ở việc xác định phần diện tích đất vi phạm trong tổng thể dự án mà còn ở phương án xử lý tài sản gắn liền với đất.

Đặc biệt, nếu áp dụng phương án xử lý, di dời tài sản gắn liền với đất theo hướng buộc thanh lý, tháo dỡ, có thể gây lãng phí lớn cho xã hội.

Từ thực tiễn này, đại biểu Trần Nhật Minh đề nghị Chính phủ nghiên cứu, bổ sung vào dự thảo Nghị định các quy định về xử lý tài sản trên đất đối với dự án đầu tư chậm tiến độ, nhằm tháo gỡ những vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện Luật Đất đai năm 2024.

Theo đại biểu, việc hoàn thiện quy định cần cụ thể hóa quan điểm, định hướng tại Nghị quyết số 21 của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan, trong đó nhấn mạnh yêu cầu: “Có chế tài cụ thể và đồng bộ để xử lý các trường hợp đã được Nhà nước giao đất, cho thuê đất nhưng không sử dụng hoặc chậm sử dụng”.

Có cơ chế giải quyết đất sản xuất xen trong rừng đặc dụng, rừng phòng hộ

Một nội dung khác được đại biểu quan tâm là chính sách giải quyết đất sản xuất cho đồng bào DTTS, nhất là tại những địa bàn có diện tích đất lâm nghiệp lớn nhưng quỹ đất sản xuất của người dân còn hạn chế.

Đại biểu cho biết, khoản 4 Điều 15 và khoản 2, khoản 3 Điều 83 dự thảo Luật đã quy định về chính sách đất đai đối với đồng bào DTTS và việc xử lý diện tích đất có nguồn gốc từ các nông, lâm trường quốc doanh để ưu tiên thực hiện chính sách này. Tuy nhiên, dự thảo chưa đề cập đến diện tích đất do các ban quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ quản lý.

Các ĐBQH tỉnh Nghệ An dự phiên thảo luận tại Hội trường
Các ĐBQH tỉnh Nghệ An dự phiên thảo luận tại Hội trường. Ảnh: Khánh Duy

Qua khảo sát và tiếp xúc cử tri tại địa phương, đại biểu nhận thấy có tình trạng đất ở, đất sản xuất được người dân sử dụng ổn định từ trước khi quy hoạch rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, nhưng trong quá trình quy hoạch chưa bóc tách hết những diện tích này nên vẫn nằm trong phạm vi quản lý hoặc quy hoạch lâm nghiệp.

Đáng chú ý, có những diện tích đất bằng nằm xen kẽ giữa các khe suối, ruộng nước, không đủ điều kiện bóc tách ra khỏi quy hoạch lâm nghiệp nhưng chưa có cơ chế cụ thể để xử lý.

Theo đại biểu, Điều 54 Luật Lâm nghiệp về ổn định đời sống dân cư trong rừng đặc dụng và vùng đệm của rừng đặc dụng, Điều 57 về sản xuất lâm, nông, ngư nghiệp kết hợp trong rừng phòng hộ đã đề cập đến vấn đề này... Tuy nhiên, các quy định mới dừng ở mức nguyên tắc chung, chưa có cơ chế cụ thể như đối với đất có nguồn gốc từ các nông, lâm trường quốc doanh.

Vì vậy, việc rà soát, điều chỉnh quy hoạch và bàn giao đất từ ban quản lý rừng về địa phương sau khi diện tích đất được đưa ra khỏi quy hoạch rừng đặc dụng, rừng phòng hộ còn gặp khó khăn, ảnh hưởng đến việc tạo quỹ đất sản xuất cho người dân.

Dẫn chứng từ địa bàn huyện Tương Dương (cũ) của tỉnh Nghệ An, đại biểu Trần Nhật Minh cho biết, đây là khu vực có nhiều diện tích rừng phòng hộ và đất lâm nghiệp, với diện tích tự nhiên 2.812,07km², nhưng diện tích đất nông nghiệp chỉ chiếm 0,32%, tương đương 901,09ha. Vì vậy, việc tạo quỹ đất sản xuất và sinh kế cho người dân gặp nhiều khó khăn.

Từ thực tiễn này, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu bổ sung vào dự thảo Luật Đất đai chính sách đối với diện tích đất ở, đất sản xuất mà người dân đã sử dụng ổn định trước khi thành lập khu rừng đặc dụng, rừng phòng hộ. Theo đó, sau khi diện tích đất được điều chỉnh ra khỏi quy hoạch lâm nghiệp, ban quản lý rừng bàn giao về UBND cấp xã để giao đất, công nhận quyền sử dụng đất cho người đang sử dụng.

Đối với diện tích đất canh tác manh mún, nhỏ lẻ của hộ gia đình, cá nhân tại các bãi bằng ven khe suối nằm xen trong rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, không đủ điều kiện bóc tách ra khỏi quy hoạch lâm nghiệp, đại biểu đề nghị bổ sung vào dự thảo Nghị định cơ chế giao cho người đang sử dụng tiếp tục sử dụng có điều kiện.

Cụ thể, người dân được sử dụng ổn định theo hiện trạng, không mở rộng diện tích, không chuyển nhượng, không chuyển mục đích sử dụng đất và phải chấp hành các quy định về quản lý, bảo vệ rừng. Trường hợp vi phạm thì bị Nhà nước thu hồi.

Theo đại biểu, chính sách này phù hợp với quy định của Luật Lâm nghiệp về ổn định sinh kế cho người dân tại khu vực rừng đặc dụng, rừng phòng hộ. Qua phản ánh của cử tri, mặc dù diện tích đất canh tác manh mún, nhỏ lẻ nhưng hiệu quả sản xuất ở một số nơi vẫn cơ bản bảo đảm nhu cầu lương thực cho đồng bào, nhất là tại những vùng xa trung tâm, điều kiện giao thương khó khăn.

Nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm hiệu quả thực chất của chính sách đất đai đối với đồng bào DTTS, đại biểu cho rằng, chính sách chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi người dân không chỉ được xác định là đối tượng thụ hưởng mà còn có đủ đất phù hợp để sản xuất, có nguồn lực để tổ chức sản xuất và có cơ chế bảo đảm thực hiện đến cùng… Đó cũng là điều kiện quan trọng để bảo đảm sinh kế cho người dân, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi.

    Có đất sản xuất phù hợp để bảo đảm sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số
    • Mặc định