Chủ động ứng phó với phòng vệ thương mại
Tính đến thời điểm tháng 3/2026, hàng hóa xuất khẩu từ nước ta đã đối mặt với 293 vụ việc phòng vệ thương mại với phạm vi, mức độ phức tạp mở rộng với nhiều nội dung mới chưa từng có tiền lệ và không chỉ với những ngành hàng chủ lực có kim ngạch lớn.
Cụ thể, mới đây nhất, ngày 8/6/2026, Bộ Thương mại Mỹ (DOC) đã ban hành kết luận cuối cùng trong đợt rà soát hành chính thuế chống bán phá giá giai đoạn từ 1/6/2023 - 31/5/2024 đối với mặt hàng mật ong nguyên chất từ Việt Nam. Theo đó, DOC xác định biên độ bán phá giá của 2 công ty trong giai đoạn rà soát lần lượt là 8,83% và 26,77%. Áp mức 17,80% đối với 12 công ty khác đủ điều kiện hưởng mức thuế suất riêng rẽ trong đợt rà soát hành chính lần này. Các doanh nghiệp không được hưởng mức thuế suất riêng rẽ tiếp tục chịu mức thuế suất 60,03% theo lệnh áp thuế hiện hành.
Trước đó Mexico, Canada, EU cũng liên tục điều tra kinh tế thị trường theo ngành, tình hình thị trường đặc biệt, cho thấy thực tế là khi ngày càng hội nhập sâu rộng, nhất là khi tham gia các hiệp định thương mại tự do (FTA) và xu thế bảo hộ của một số khu vực, nền kinh tế đồng nghĩa với nguy cơ trở thành đối tượng điều tra phòng vệ thương mại cũng gia tăng tương ứng. Câu hỏi đặt ra là doanh nghiệp cần làm gì để phòng ngừa, ứng phó và vai trò của các cơ quan chức năng như thế nào?
Thực tế, cùng với việc các thị trường nhập khẩu áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại, nước ta cũng đã khởi xướng điều tra nhiều vụ việc. Tính đến hết tháng 5/2026, nước ta đã áp dụng 48 biện pháp phòng vệ thương mại, trong đó có 35 biện pháp đang được duy trì. Điều này cho thấy phòng vệ thương mại là “điều hiển nhiên, có đi có lại” mà nguyên nhân chính là do quá trình đẩy nhanh tự do hóa thương mại của nước ta với thế giới. Nguyên nhân nữa là do xu thế bảo hộ thương mại đang diễn biến khó lường, với nhiều biện pháp, mức độ khác nhau.
Để ứng phó với tình trạng này, ngoài việc cung cấp kịp thời thông tin cảnh báo để doanh nghiệp chủ động chuẩn bị khi các vụ việc điều tra phòng vệ thương mại xảy ra, theo đại diện Cục Phòng vệ thương mại, Bộ Công thương, cần tiếp tục nâng cao năng lực cho doanh nghiệp về quản trị dữ liệu, quản trị chi phí, hiểu và tuân thủ các quy định pháp lý nhằm nâng cao tỷ lệ thành công.
Phối hợp với các hiệp hội, ngành hàng, các địa phương hướng dẫn doanh nghiệp tuân thủ đúng các quy định về xuất xứ hàng hóa, truy xuất nguồn gốc, minh bạch chuỗi cung ứng và nhập khẩu nguyên liệu, sử dụng những nguyên liệu. Tăng cường kiểm soát, ngăn chặn tình trạng gian lận xuất xứ, nhất là hiện tượng lợi dụng Việt Nam làm điểm trung chuyển nhằm lẩn tránh các biện pháp phòng vệ thương mại.
Về phía các hiệp hội ngành hàng, đây phải là "bộ não" trong quá trình ứng phó với rủi ro thương mại. Là trung tâm tập hợp thông tin, đầu mối cảnh báo sớm các nguy cơ điều tra, điều phối tiếng nói chung của doanh nghiệp, qua đó hỗ trợ xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ phòng vệ thương mại. Bên cạnh đó, cần hình thành mạng lưới phối hợp chặt chẽ giữa doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng, địa phương và cơ quan quản lý nhằm xây dựng, chia sẻ thông tin, hỗ trợ doanh nghiệp chủ động ứng phó với các nguy cơ.
Ngoài ra, các doanh nghiệp phải có cơ chế phối hợp, chủ động tham gia vào các hoạt động chung của hiệp hội để hình thành nguồn dữ liệu đồng bộ, có tiếng nói thống nhất trong quá trình bảo vệ quyền lợi vì chỉ cần một số doanh nghiệp không hợp tác, cung cấp dữ liệu thiếu chính xác, toàn bộ lập luận của ngành hàng có thể bị ảnh hưởng.
Khi kim ngạch xuất khẩu càng tăng, thì các vụ việc phòng vệ thương mại cũng sẽ tăng vì các mặt hàng này có thể tạo sức ép cạnh tranh tại thị trường nhập khẩu. Bởi vậy, cần thiết phải có sự liên kết, đồng thuận và phối hợp hành động giữa các doanh nghiệp trong hiệp hội.

