Chất vấn và trả lời chất vấn tại Kỳ họp thứ 4, HĐND tỉnh Thanh Hóa Khóa XIX: Gỡ điểm nghẽn: “trường thiếu phòng, lớp thiếu thầy” của ngành giáo dục
Thiếu 5.375 phòng học và phòng học bộ môn; thiếu gần 9.000 giáo viên; nhiều lớp học vượt sĩ số, thiết bị phục vụ Chương trình giáo dục phổ thông 2018 mới đáp ứng khoảng 60% nhu cầu;…Những câu hỏi thẳng thắn, thiết thực của các đại biểu HĐND tỉnh tại Kỳ họp thứ 4, HĐND tỉnh Thanh Hóa khóa XIX đã chỉ rõ hai “điểm nghẽn” lớn nhất của giáo dục hiện nay là cơ sở vật chất và đội ngũ nhà giáo. Gỡ được những nút thắt này sẽ góp phần tạo chuyển biến thực chất về chất lượng dạy và học trong từng nhà trường.
Số lượng học sinh tăng nhanh - cơ sở vật chất và nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu
Một trong những vấn đề được các đại biểu đặc biệt quan tâm tại phiên chất vấn là tình trạng sĩ số học sinh vượt quy định, nhất là tại những khu vực có tốc độ gia tăng dân số cơ học cao. Đại biểu Nguyễn Thị Sơn dẫn số liệu cho thấy tại 12 xã, phường vùng bãi ngang, ven biển, có tới 45/54 trường mầm non có số trẻ trên nhóm vượt định mức; 15/54 trường mầm non vượt định mức đối với lớp mẫu giáo và 22/49 trường tiểu học có sĩ số học sinh trên lớp cao hơn quy định.

Từ thực trạng này, đại biểu Nguyễn Thị Sơn đặt vấn đề: “Nguyên nhân quá tải là do thiếu phòng học, thiếu quỹ đất, thiếu biên chế giáo viên hay do công tác phân tuyến tuyển sinh, điều tiết địa bàn chưa phù hợp?”
Trả lời chất vấn của đại biểu, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Thanh Hóa Đỗ Đức Quế cho biết, từ năm 2020 đến nay, quy mô học sinh toàn tỉnh tăng bình quân khoảng 19.000 em mỗi năm. Số học sinh tăng nhanh nhưng phòng học và đội ngũ giáo viên chưa được bổ sung tương ứng, dẫn tới nhiều nơi phải dồn lớp, tăng sĩ số.
Theo người đứng đầu ngành giáo dục tỉnh, sĩ số bình quân ở nhiều cấp học của Thanh Hóa hiện cao hơn mức bình quân chung của cả nước. Riêng cấp THPT có khoảng 43 học sinh/lớp; tại một số xã, phường, sĩ số bình quân ở cấp THCS lên tới 49 học sinh/lớp, vượt quá định mức của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Áp lực này càng lớn khi toàn ngành đang thiếu 17.023 người làm việc so với định mức tối đa, trong đó thiếu xấp xỉ 9.000 giáo viên. Thiếu người đứng lớp không chỉ khiến sĩ số phải tăng mà còn làm gia tăng khối lượng công việc, số tiết dạy của giáo viên hiện có, ảnh hưởng trực tiếp đến điều kiện tổ chức dạy học và chất lượng giáo dục.
Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Đỗ Đức Quế cũng thẳng thắn nhìn nhận, ngành giáo dục Thanh Hóa hiện có hai điểm nghẽn lớn là cơ sở vật chất và con người, trong đó điểm nghẽn lớn nhất là con người.
Theo ông Đỗ Đức Quế: “Phải có đủ giáo viên, đồng thời đội ngũ phải đáp ứng yêu cầu về chất lượng, năng lực đổi mới thì mới có thể tổ chức hoạt động dạy và học hiệu quả. Một ngôi trường có cơ sở vật chất tốt nhưng không đủ giáo viên đứng lớp, hoặc giáo viên phải dạy vượt định mức trong thời gian dài, thì chất lượng giáo dục khó được bảo đảm bền vững”
Để từng bước khắc phục, ngành giáo dục đang tổ chức tuyển dụng hơn 2.000 giáo viên, đồng thời tiếp tục tham mưu UBND tỉnh thực hiện các cơ chế hợp đồng giáo viên, nhân viên từ nguồn ngân sách theo quy định. Tuy nhiên, tuyển đủ người mới chỉ là bước đầu, việc bố trí giáo viên cần bám sát biến động quy mô học sinh, nhu cầu thực tế của từng cấp học, từng môn học và từng địa bàn, tránh tình trạng nơi thừa cục bộ, nơi lại thiếu kéo dài.

Tại phiên chất vấn, đại biểu Lê Xuân Phúc Hưng cũng nêu thực trạng: toàn tỉnh Thanh Hóa còn thiếu 5.375 phòng học và phòng học bộ môn. Sự thiếu hụt này hạn chế khả năng tổ chức dạy học hai buổi/ngày, đồng thời ảnh hưởng đến việc triển khai các môn học, hoạt động thực hành theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018.
Đại biểu đề nghị Giám đốc Sở làm rõ lộ trình khắc phục từ nay đến năm 2030, nhu cầu kinh phí và tiêu chí ưu tiên đầu tư trong điều kiện nguồn lực ngân sách còn hạn chế.
Về vấn đề đại biểu nêu, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Đỗ Đức Quế phân tích, với mức tăng bình quân khoảng 19.000 học sinh mỗi năm, toàn tỉnh cần bổ sung gần 500 phòng học mỗi năm. Chỉ tính từ năm 2020 đến nay, nhu cầu phát sinh đã tương đương khoảng 3.000 phòng học, chưa kể số phòng còn thiếu từ giai đoạn trước.

Để khắc phục, ngành giáo dục đã tham mưu triển khai nhiều chương trình đầu tư. Trong đó, 16 trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới dự kiến được đầu tư gần 3.000 tỷ đồng, qua đó từng bước giải quyết đồng bộ nhu cầu phòng học, phòng chức năng, khu nội trú và thiết bị dạy học tại các địa bàn đặc biệt khó khăn.
Một chương trình khác dự kiến đầu tư khoảng 423 tỷ đồng cho 41 trường mầm non và phổ thông, thực hiện đến năm 2027. Riêng trong năm 2026, ngành giáo dục đề xuất đầu tư, sửa chữa 74 cơ sở giáo dục, ưu tiên những trường xuống cấp, không bảo đảm an toàn cho các em học sinh
Đáng chú ý, giai đoạn 2026 - 2030, Sở Giáo dục và Đào tạo tham mưu UBND tỉnh bố trí khoảng 1.871 tỷ đồng để xây dựng, sửa chữa, nâng cấp 514 trường học; bổ sung phòng học, phòng bộ môn và thiết bị, gắn đầu tư cơ sở vật chất với mục tiêu duy trì, nâng tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia.
Theo Giám đốc Sở Đỗ Đức Quế, tiêu chí ưu tiên hàng đầu là những phòng học, công trình trường học xuống cấp, có nguy cơ gây mất an toàn cho học sinh. Sau đó mới đến các công trình đã quá niên hạn sử dụng, các trường thiếu phòng học nghiêm trọng và những cơ sở cần đầu tư để duy trì hoặc xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia.

Đây cũng là nội dung được đại biểu Hoàng Thị Lan Phương chất vấn khi Thanh Hóa có gần 87% trường được công nhận đạt chuẩn quốc gia, nhưng khảo sát thực tế cho thấy một số trường không còn bảo đảm đầy đủ điều kiện tối thiểu về phòng học, phòng bộ môn, nhà vệ sinh, nước sạch và an toàn trường học.
Vấn đề đại biểu nêu ra rất đáng lưu ý, bởi danh hiệu trường chuẩn không thể chỉ phản ánh điều kiện tại thời điểm được công nhận. Chuẩn phải được duy trì trong suốt quá trình hoạt động và phải được thể hiện bằng chất lượng môi trường giáo dục mà học sinh được thụ hưởng mỗi ngày.
Giám đốc Sở Đỗ Đức Quế cho biết, sau khi được công nhận, trường chuẩn quốc gia phải được duy trì trong chu kỳ khoảng 5 năm trước khi xem xét công nhận lại. Trong thời gian này, nếu nhà trường, chính quyền địa phương và cơ quan quản lý không thường xuyên quan tâm, đầu tư, cơ sở vật chất có thể xuống cấp do thời gian, thiên tai hoặc quá trình sử dụng.
Người đứng đầu ngành giáo dục tỉnh khẳng định sẽ kiên quyết không công nhận mới hoặc công nhận lại đối với những trường không đáp ứng tiêu chuẩn; không chạy theo thành tích về tỷ lệ trường chuẩn. Đây là quan điểm cần được thực hiện nghiêm túc, bởi mục tiêu cuối cùng của xây dựng trường chuẩn phải là nâng cao chất lượng giáo dục, chứ không phải hoàn thành một chỉ tiêu mang tính hình thức.
Xóa tình trạng thiếu đồng bộ trong mua sắm, sử dụng thiết bị dạy học
Một nội dung khác được các đại biểu chất vấn quyết liệt là sự chậm trễ và thiếu đồng bộ trong mua sắm, sử dụng thiết bị dạy học.
Đại biểu Lê Như Tú cho biết, theo Kế hoạch số 134 ngày 17/6 năm 2020 của UBND tỉnh về triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, việc mua thiết bị dạy học tối thiểu cho các cấp học từ nguồn kinh phí của tỉnh sẽ được hoàn thành trong năm học 2024 - 2025, tuy nhiên, các khối lớp 4, 5, 8, 9, 11 và 12 chưa được trang cấp đầy đủ thiết bị dạy học tối thiểu. Đại biểu đề nghị làm rõ nguyên nhân cốt lõi, trách nhiệm của cơ quan chủ trì tham mưu khi để tình trạng “học chay, dạy chay” kéo dài, đồng thời yêu cầu một mốc thời gian cụ thể để hoàn thành việc mua sắm trang thiết bị dạy học
.jpg)
Về vấn đề mua sắm trang thiết bị dạy và học, đại biểu Lê Thị Phương cũng chỉ ra thực trạng: Nhiều trường thiếu phòng bộ môn, phòng Tin học, phòng đa năng; có nơi thiết bị được cấp về nhưng phải xếp trong kho vì không có phòng để lắp đặt, trong khi một số nơi thực sự có nhu cầu lại chưa được trang cấp.
Trả lời chất vấn của các đại biểu, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Đỗ Đức Quế thẳng thắn nhìn nhận, Thanh Hóa là một trong những địa phương chậm mua sắm thiết bị dạy học so với yêu cầu. Trong đó, trách nhiệm lớn nhất thuộc về Sở Giáo dục và Đào tạo với vai trò cơ quan chủ trì tham mưu.
Ông Đỗ Đức Quế cho rằng công tác tham mưu thời gian qua còn chậm, có lúc còn rụt rè, thận trọng và chưa đủ quyết liệt. Bên cạnh đó là những khó khăn liên quan đến tiêu chuẩn, định mức kỹ thuật, thủ tục đấu thầu, hành lang pháp lý và nguồn kinh phí. Theo rà soát, nhu cầu kinh phí để mua sắm đầy đủ thiết bị dạy học tối thiểu có thể lên tới hơn 1.000 tỷ đồng. Giám đốc Sở cam kết ngành giáo dục sẽ tập trung hoàn thành việc mua sắm thiết bị dạy học tối thiểu trong hai năm học 2026 - 2027 và 2027 - 2028.

Cam kết này cần được cụ thể hóa thành tiến độ đối với từng cấp học, từng khối lớp và từng địa phương. Cùng với danh mục mua sắm phải có danh mục phòng học, phòng bộ môn cần xây dựng hoặc cải tạo; kế hoạch đào tạo giáo viên sử dụng thiết bị; phương án bảo quản, bảo trì và cơ chế kiểm tra hiệu quả khai thác sau đầu tư.
Chương trình giáo dục phổ thông mới hướng tới phát triển năng lực, phẩm chất học sinh. Vì vậy, không thể chỉ có sách giáo khoa và bài giảng lý thuyết. Học sinh phải được quan sát, thực hành, thí nghiệm và trải nghiệm. Thiếu phòng bộ môn, thiếu thiết bị hoặc thiết bị nằm trong kho đều làm suy giảm mục tiêu đổi mới giáo dục.

Tại phiên chất vấn, các đại biểu HĐND tỉnh cũng quan tâm đến việc sắp xếp mạng lưới trường lớp học chưa đạt mục tiêu theo Quyết định số 2820/QĐ-UBND và đề nghị Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo đưa ra phương án sắp xếp trong giai đoạn 2026 - 2030.
Giám đốc Sở Đỗ Đức Quế thừa nhận công tác dự báo quy mô học sinh chưa sát thực tế; việc tuyên truyền, tạo đồng thuận ở một số địa phương còn hạn chế; công tác tham mưu, kiểm tra, đôn đốc và phối hợp giữa ngành giáo dục với chính quyền địa phương chưa tốt.
Sở Giáo dục và Đào tạo dự kiến tổ chức lại các trường theo hai mô hình chính: trường cùng cấp nhưng có nhiều cơ sở, phân hiệu; hoặc trường phổ thông liên cấp sẽ có 1 điểm chính và có các điểm phụ, phân hiệu. Việc sắp xếp hướng tới giảm đầu mối quản lý, song không nhất thiết phải di chuyển ngay học sinh khỏi các cơ sở hiện có.

Đây là cách tiếp cận cần thiết, bởi sắp xếp trường học không thể đồng nghĩa một cách máy móc với đóng cửa điểm trường. Giảm đầu mối phải nhằm tinh gọn bộ máy, tập trung nguồn lực và nâng cao chất lượng quản trị; không được làm gia tăng quãng đường đến trường, chi phí đi lại hoặc nguy cơ mất an toàn đối với học sinh.

