Cắt giảm thủ tục hành chính cho doanh nghiệp, đẩy mạnh phân quyền cho địa phương
Thảo luận tại Tổ 1 (Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội) về dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, ĐBQH Tô Huy Vũ tán thành chủ trương cắt giảm thủ tục hành chính cho doanh nghiệp, đẩy mạnh phân quyền cho địa phương và phát triển các công cụ kinh tế mới như thị trường carbon. Tuy nhiên, đại biểu nhấn mạnh, cải cách phải đi đôi với duy trì các chốt chặn an toàn môi trường, nâng cao năng lực hậu kiểm và xây dựng lộ trình phù hợp với điều kiện hạ tầng thực tế.
Làm rõ tiêu chí xác định dự án phải đánh giá tác động môi trường
ĐBQH Tô Huy Vũ đánh giá, chủ trương cắt giảm thủ tục hành chính, đẩy mạnh phân quyền và phát triển các công cụ kinh tế mới là cần thiết. Theo Báo cáo số 11759 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, việc triển khai Nghị quyết số 17 và Nghị quyết số 66.19 của Chính phủ đã giúp cắt giảm hơn 52% thời gian giải quyết thủ tục và chi phí tuân thủ.
Việc sửa đổi Luật lần này có ý nghĩa quan trọng trong việc luật hóa, duy trì thành quả cải cách. Tuy nhiên, theo đại biểu, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và bảo đảm môi trường sống an toàn không phải hai mục tiêu đánh đổi lẫn nhau. Luật cần vừa tháo gỡ rào cản đầu tư, vừa duy trì các chốt chặn an toàn môi trường.

Về xác định dự án phải thực hiện đánh giá tác động môi trường (ĐTM) tại Điều 28 và Điều 30, đại biểu cho rằng cần khắc phục cách quy định "lòng vòng", gây khó khăn cho doanh nghiệp. Theo thông tin của Chính phủ, dự thảo đã cắt giảm trên 90% đối tượng phải thực hiện ĐTM và cấp giấy phép môi trường. Tuy nhiên, cách quy định loại trừ qua lại giữa dự thảo Luật và dự thảo Nghị định vẫn khiến doanh nghiệp lúng túng, phải tra cứu đồng thời 4 điều khoản tại Điều 28, 29, 30 và 40 của Nghị định mới xác định được nghĩa vụ.
Dẫn Báo cáo thẩm tra số 873 của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường, đại biểu nhấn mạnh, ĐTM là công cụ phòng ngừa từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư, còn giấy phép môi trường là công cụ kiểm soát khi dự án đi vào vận hành. Vì vậy, không thể lấy đối tượng thuộc diện cấp giấy phép môi trường làm căn cứ loại trừ để xác định đối tượng phải thực hiện ĐTM.
Đại biểu đề nghị bổ sung trực tiếp vào Điều 28 các tiêu chí khung rõ ràng, dễ đối chiếu, gồm loại hình, quy mô, công suất, lưu lượng và tải lượng phát thải, tính chất nguy hại và mức độ nhạy cảm của môi trường tiếp nhận, giúp doanh nghiệp chủ động xác định nghĩa vụ.
Đại biểu Tô Huy Vũ cảnh báo nguy cơ phát sinh lỗ hổng an toàn môi trường tại các cụm công nghiệp và lưu vực sông nếu ba biện pháp cắt giảm tiền kiểm được áp dụng đồng thời mà thiếu cơ chế kiểm soát phù hợp.
Thứ nhất, dự thảo miễn ĐTM đối với dự án thứ cấp trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp. Dù hơn 95% số khu công nghiệp đã có hệ thống xử lý nước thải tập trung, cả nước mới có 34,7%, tương đương 251/723 cụm công nghiệp, được trang bị hạ tầng này; gần 2/3 số cụm công nghiệp chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung.
Thứ hai, dự thảo vẫn cho phép cấp giấy phép môi trường đối với hoạt động xả thải vào nguồn nước khi chưa công bố chính thức khả năng chịu tải của sông, ngòi theo điểm e khoản 1 Điều 42. Trong khi đó, Báo cáo số 934 của Chính phủ thừa nhận tỷ lệ các sông đã được đánh giá sức chịu tải còn rất thấp.
Thứ ba, dự thảo bỏ quy định về vận hành thử nghiệm công trình xử lý chất thải tại Điều 46. Theo đại biểu, điều này có thể khiến lần đầu nhà máy vận hành cũng là lần đầu hệ thống xả thải thực sự ra môi trường. Nếu áp dụng đồng thời, một nhà máy tại cụm công nghiệp chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung có thể được miễn ĐTM, được cấp phép xả thải vào nguồn nước chưa xác định khả năng chịu tải và không phải vận hành thử nghiệm hệ thống xử lý chất thải.
Để ngăn ngừa nguy cơ này, đại biểu đề nghị không miễn ĐTM đối với dự án có nguồn thải lớn, phát sinh chất thải nguy hại hoặc sử dụng công nghệ rủi ro cao tại cụm công nghiệp chưa hoàn thiện hạ tầng. Đồng thời, cần ấn định thời hạn bắt buộc công bố sức chịu tải nguồn nước và bổ sung cơ chế kiểm soát tạm thời theo kiến nghị của cơ quan thẩm tra.
Năng lực hậu kiểm tại địa phương chưa theo kịp tốc độ cắt giảm tiền kiểm
Theo đại biểu Tô Huy Vũ, năng lực hậu kiểm tại địa phương chưa theo kịp tốc độ cắt giảm tiền kiểm. Dù định hướng của Chính phủ là tăng cường giám sát trực tuyến, chuyển sang hậu kiểm và đẩy mạnh phân quyền, thực tế cho thấy năng lực kiểm tra, giám sát còn hạn chế. Trong giai đoạn 2022–2025, số cuộc thanh tra, kiểm tra của Bộ giảm 30%, nhưng tỷ lệ cơ sở vi phạm bị phát hiện tăng từ 34% lên 42%. Tại Hà Nội, theo kết luận của Thanh tra thành phố được báo chí phản ánh ngày 22/10/2026, trong tổng số 700 đơn vị tại các khu công nghiệp, mỗi năm 2023 và 2024 chỉ kiểm tra được hơn 3% số đơn vị. Từ năm 2025 đến tháng 4/2026, không có cuộc kiểm tra nào được thực hiện; trong khi kiểm tra chọn mẫu đã phát hiện 3 đơn vị có dấu hiệu vi phạm.
Bên cạnh hạn chế về tần suất kiểm tra, địa phương còn thiếu chuyên gia chuyên sâu. Dự thảo cũng chuyển cơ chế quản lý dịch vụ quan trắc từ cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sang để doanh nghiệp tự công bố năng lực, tiềm ẩn nguy cơ làm khống hoặc mua bán số liệu quan trắc.

Một bất cập khác là khoản 4 Điều 4 quy định Chủ tịch UBND cấp tỉnh chịu trách nhiệm về ô nhiễm trên địa bàn nhưng loại trừ trường hợp ô nhiễm liên tỉnh, xuyên biên giới. Với các vấn đề như bụi mịn, ô nhiễm không khí và nguồn nước liên tỉnh, nếu thiếu cơ chế phối hợp, quy định này có thể trở thành căn cứ né tránh trách nhiệm.
Đại biểu đề nghị phân quyền phải đi kèm cơ chế hỗ trợ chuyên gia từ Trung ương, kiểm soát chặt chẽ các đơn vị quan trắc tự công bố năng lực và thay quy định loại trừ trách nhiệm tại khoản 4 Điều 4 bằng cơ chế điều phối liên tỉnh, liên ngành. Đây là điều kiện để nâng cao hiệu quả hậu kiểm và xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan liên quan.
Đại biểu Tô Huy Vũ cho rằng, không nên giao hoàn toàn cho văn bản dưới luật quy định những vấn đề tác động trực tiếp đến quyền, lợi ích của người dân và doanh nghiệp. Đối với cơ chế thử nghiệm có kiểm soát tại Điều 152a, dự thảo cho phép miễn, giảm một số điều kiện bảo vệ môi trường nhưng chưa làm rõ thẩm quyền cho phép, thời hạn thử nghiệm tối đa, phạm vi miễn, giảm và cơ chế bồi thường khi xảy ra sự cố môi trường.
Với việc thiết lập vùng phát thải thấp tại Điều 3 và Điều 65, chính sách có tác động trực tiếp đến việc đi lại, sinh kế của người dân và hoạt động của doanh nghiệp vận tải. Vì vậy, đại biểu đề nghị quy định rõ ngay trong Luật thẩm quyền quyết định thành lập vùng phát thải thấp thuộc HĐND cấp tỉnh, bảo đảm vai trò của cơ quan dân cử đối với chính sách ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Đồng thời, đại biểu đề nghị Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến đối với các nghị định hướng dẫn then chốt trước khi Luật có hiệu lực từ ngày 1/3/2027, góp phần bảo đảm tính minh bạch, khả thi và hạn chế vướng mắc khi triển khai.
Lộ trình tái chế, phân loại rác phải phù hợp với hạ tầng thực tế
Về trách nhiệm tái chế của nhà sản xuất tại Điều 54 và phân loại rác sinh hoạt tại Điều 77, đại biểu Tô Huy Vũ nhấn mạnh chính sách phải gắn với năng lực hạ tầng thực tế. Dự thảo bỏ hình thức đóng tiền vào Quỹ và cho phép cộng dồn nghĩa vụ tái chế chưa hoàn thành sang các năm sau. Theo đại biểu, việc này chỉ lùi thời hạn thực hiện, chưa giải quyết được nguyên nhân căn bản là trong nước còn thiếu nhà máy tái chế. Thực tế, Chính phủ đã phải áp dụng mức tái chế 0% đối với pin xe điện đến năm 2029 tại Nghị định số 110/2026/NĐ-CP do chưa đủ hạ tầng.
Đại biểu đề nghị luật hóa nguyên tắc lộ trình tái chế bắt buộc đối với từng nhóm sản phẩm phải gắn với mức độ sẵn sàng của hạ tầng tái chế trong nước; đồng thời cho phép doanh nghiệp sử dụng kết quả tái chế vượt chỉ tiêu ở dòng sản phẩm dễ xử lý để bù trừ cho dòng sản phẩm khó tái chế trong cùng nhóm hàng.

Đối với phân loại rác sinh hoạt, dự thảo cho phép đơn vị thu gom từ chối vận chuyển nếu người dân phân loại không đúng quy định. Tuy nhiên, thực tiễn được Đoàn ĐBQH tỉnh Lạng Sơn phản ánh cho thấy người dân đã phân loại rác thành ba túi tại nhà nhưng khi thu gom, rác vẫn bị đổ chung do thiếu phương tiện chuyên dụng.
Theo đại biểu, không thể chỉ đặt trách nhiệm lên người dân trong khi hạ tầng thu gom, vận chuyển và xử lý chưa đáp ứng. Vì vậy, cần bổ sung vào Điều 77 quy định đơn vị thu gom không được trộn lẫn rác đã phân loại; chỉ áp dụng chế tài bắt buộc phân loại tại những địa phương đã có đủ phương tiện thu gom và xử lý tương ứng.
Đối với các Điều 91, 139 và 139a của dự thảo Luật, đại biểu đề nghị tháo gỡ điểm nghẽn về thẩm định độc lập và làm rõ quyền tài sản trên thị trường carbon.
Theo lộ trình, từ năm 2027, các cơ sở phải nộp báo cáo kiểm kê khí nhà kính có thẩm định độc lập, tiến tới vận hành thị trường carbon bắt buộc vào năm 2029. Tuy nhiên, số lượng tổ chức thẩm định đủ năng lực tại Việt Nam còn ít. Nếu không sớm khắc phục, thị trường có nguy cơ ách tắc từ năm 2027, đồng thời làm tăng chi phí doanh nghiệp.
Từ góc độ hoạt động ngân hàng, đại biểu kiến nghị xác lập rõ tính chất quyền tài sản đặc thù của hạn ngạch phát thải và tín chỉ carbon, tạo cơ sở cho doanh nghiệp chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố, góp vốn, qua đó khơi thông dòng vốn tín dụng xanh.
Tại Điều 139a, đại biểu đề nghị làm rõ cơ quan đầu mối quản lý Hệ thống đăng ký quốc gia, tỷ lệ tín chỉ được giữ lại phục vụ mục tiêu cam kết quốc gia (NDC) và cơ chế chống hành vi tẩy xanh trong các giao dịch quốc tế.
Đại biểu đề nghị Ban soạn thảo và cơ quan thẩm tra tiếp thu, hoàn thiện sáu nhóm kiến nghị theo ba nguyên tắc: quy định rõ khung cải cách ngay trong Luật; củng cố năng lực hậu kiểm tương xứng với việc giảm tiền kiểm; xây dựng lộ trình tái chế, phân loại rác và phát triển thị trường carbon phù hợp với hạ tầng thực tế. Theo đại biểu, thực hiện đồng bộ các nguyên tắc này sẽ giúp Luật vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững, vừa bảo vệ môi trường sống của Nhân dân.

