Ý kiến đại biểu

Cần làm rõ trách nhiệm của UBND cấp xã trong quy định việc thu gom, tập kết và chuyển giao rác thải tái chế

Diệp Anh • 06/11/2026 17:25

Chiều 6/11, thảo luận tại Hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, ĐBQH Trần Nhật Minh (Nghệ An) đề nghị bổ sung quy định giao UBND cấp xã quy định cụ thể việc thu gom, địa điểm tập kết và chuyển giao chất thải rắn có khả năng tái sử dụng, tái chế, phù hợp với điều kiện từng khu dân cư.

Quy định còn chung chung, tính khả thi chưa cao

Góp ý về quy định phân loại, lưu giữ và chuyển giao chất thải rắn sinh hoạt tại Điều 75 dự thảo Luật, ĐBQH Trần Nhật Minh cho rằng, phân loại chất thải có khả năng tái sử dụng, tái chế là một nội dung quan trọng trong quản lý chất thải rắn sinh hoạt.

Theo dự thảo, việc phân loại chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ tổ chức, hộ gia đình phải bảo đảm tối thiểu hai nhóm, trong đó có nhóm chất thải rắn có khả năng tái sử dụng, tái chế. Tuy nhiên, điểm a khoản 4 Điều 75 chỉ quy định nhóm chất thải này “được chuyển giao cho tổ chức, cá nhân có nhu cầu”.

ĐBQH Trần Nhật Minh (Nghệ An). Ảnh Hồ Long
ĐBQH Trần Nhật Minh (Nghệ An) phát biểu. Ảnh: Hồ Long

Đại biểu nhận định, quy định như vậy còn chung chung, không rõ địa chỉ chuyển giao, tính khả thi chưa cao. Trong khi đó, dự thảo quy định chất thải thực phẩm và chất thải rắn sinh hoạt khác phải được chứa đựng trong bao bì, thiết bị theo quy định, nhưng chưa làm rõ việc thu gom riêng đối với chất thải có khả năng tái sử dụng, tái chế.

Để khắc phục bất cập này, đại biểu đề nghị bổ sung quy định giao UBND cấp xã quy định cụ thể việc thu gom, địa điểm tập kết và chuyển giao chất thải rắn có khả năng tái sử dụng, tái chế, phù hợp với điều kiện từng khu dân cư, tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân có nhu cầu tiếp cận, khai thác.

Theo đề xuất, chất thải sau khi được thu gom, tập kết sẽ được chuyển giao cho tổ chức, cá nhân có nhu cầu tái sử dụng, tái chế. Trường hợp sau một thời gian nhất định không có người tiếp nhận để tái sử dụng, tái chế thì chuyển giao cho cơ sở có chức năng thu gom, vận chuyển, xử lý theo quy định, bảo đảm yêu cầu bảo vệ môi trường.

ĐBQH tỉnh Nghệ An dự phiên thảo luận tại hội trường, chiều 6/11
ĐBQH tỉnh Nghệ An dự phiên thảo luận tại hội trường, chiều 6/11. Ảnh: Khánh Duy

Cụ thể, đại biểu đề xuất sửa đổi điểm a khoản 4 Điều 75 theo hướng: “Chất thải rắn có khả năng tái sử dụng, tái chế quy định tại điểm a khoản 2 Điều này được thu gom, tập kết để chuyển giao cho tổ chức, cá nhân có nhu cầu hoặc cơ sở có chức năng thu gom, vận chuyển, xử lý. UBND cấp xã quy định việc thu gom, địa điểm tập kết và chuyển giao đáp ứng yêu cầu về bảo vệ môi trường”.

Tránh khoảng trống trách nhiệm trong bảo vệ môi trường

Đối với quy định giải thích từ ngữ tại khoản 1 Điều 1 dự thảo Luật, đại biểu Trần Nhật Minh đề nghị không bổ sung khái niệm “vệ sinh công cộng” tại khoản 39 Điều 3.

Theo dự thảo, vệ sinh công cộng được xác định là hoạt động thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải và duy trì vệ sinh thuộc trách nhiệm của Nhà nước tại các khu vực công cộng, bao gồm cả tuyến sông, suối, kênh, rạch, hồ, đập và bờ biển.

Các ĐBQH dự phiên họp tại hội trường
Các ĐBQH dự phiên họp tại hội trường. Ảnh: Khánh Duy

Đại biểu cho rằng, cách giải thích này chưa đầy đủ, bởi chưa thể hiện trách nhiệm của cộng đồng dân cư, cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân trong giữ gìn vệ sinh công cộng.

Trong khi đó, khoản 1 Điều 59 Luật Bảo vệ môi trường hiện hành đã quy định cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có trách nhiệm thực hiện quy định về bảo vệ môi trường và giữ gìn vệ sinh công cộng. Dự thảo nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường cũng đề cập các hoạt động duy trì vệ sinh đường phố, ngõ, xóm, khu vực công cộng; thu gom, vận chuyển, xử lý rác trên mặt kênh, mương, hồ, ao, bãi biển.

Từ thực tế các hoạt động vệ sinh môi trường có sự tham gia của cộng đồng dân cư, cơ quan, tổ chức, đại biểu nhấn mạnh bảo vệ môi trường nơi công cộng không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà còn là trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân.

Bên cạnh đó, xét về kỹ thuật lập pháp, đại biểu cho rằng việc bổ sung giải thích từ ngữ này không thực sự cần thiết, bởi cụm từ “vệ sinh công cộng” ít được sử dụng trong dự thảo Luật và không chứa đựng nhiều nội dung mang tính quy phạm cần giải thích riêng.

Vì vậy, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo không bổ sung quy định giải thích từ ngữ “vệ sinh công cộng” tại khoản 39 Điều 3 nhằm tránh trùng lặp, mâu thuẫn với quy định tại Điều 59 Luật Bảo vệ môi trường hiện hành, đồng thời tránh tạo tâm lý trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước trong thực hiện trách nhiệm giữ gìn vệ sinh công cộng.

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên điều hành phiên họp
Quang cảnh phiên họp. Ảnh: Quang Khánh

Đối với quy định về bảo vệ môi trường trong hoạt động xây dựng tại Điều 64, đại biểu đề nghị sửa đổi cách quy định về địa điểm đổ thải đối với đất, đá, bê tông, gạch, cát, bùn và các chất trơ khác phát sinh từ hoạt động thi công xây dựng, cải tạo, sửa chữa, phá dỡ công trình.

Theo đại biểu, việc dự thảo liệt kê các địa điểm không được đổ thải như đường, sông, suối, kênh, rạch hoặc nguồn nước mặt khác chưa bao quát hết các tình huống thực tế. Quy định này có thể dẫn đến cách hiểu rằng những địa điểm không được liệt kê thì được phép đổ thải, gây khó khăn cho việc xử lý hành vi đổ thải bừa bãi tại khu vực công cộng.

Trong khi đó, dự thảo đã có quy định về việc UBND cấp tỉnh bố trí địa điểm đổ chất thải từ hoạt động xây dựng. Để bảo đảm tính chặt chẽ, tránh vướng mắc khi thi hành, đại biểu đề nghị sửa đổi điểm d khoản 5 Điều 64 theo hướng: “Vật chất quy định tại điểm này không phải quản lý theo quy định về quản lý chất thải nhưng phải đổ thải tại địa điểm đổ thải do UBND cấp tỉnh quy định”.

    Cần làm rõ trách nhiệm của UBND cấp xã trong quy định việc thu gom, tập kết và chuyển giao rác thải tái chế
    • Mặc định