Cần khung giải pháp phát triển doanh nghiệp đặc thù cho đồng bằng sông Cửu Long
Thảo luận tại Hội trường về tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 và dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2027 chiều 30/10, ĐBQH Tạ Minh Tâm (Đồng Tháp) đề nghị nghiên cứu triển khai một Khung giải pháp phát triển doanh nghiệp đặc thù cho vùng đồng bằng sông Cửu Long. Theo đó, khung giải pháp cần nhận diện đúng nguyên nhân khiến mật độ doanh nghiệp của vùng thấp kéo dài, phù hợp với đặc điểm kinh tế nông nghiệp, thị trường liên tỉnh và sự liên kết với vùng Đông Nam Bộ.
Thiếu doanh nghiệp, sản xuất lớn khó thành chuỗi giá trị
Phát biểu tại Hội trường, đại biểu Tạ Minh Tâm nêu thực tế: đồng bằng sông Cửu Long là vùng sản xuất phần lớn lúa gạo, thủy sản và nhiều loại trái cây chủ lực của đất nước, có đóng góp đặc biệt quan trọng cho an ninh lương thực và xuất khẩu quốc gia. Đằng sau những thành tựu sản xuất ấy lại tồn tại một vấn đề đáng suy nghĩ: Tại sao một trong những vùng sản xuất hàng hóa lớn nhất nước lại là vùng có mật độ doanh nghiệp thấp nhất cả nước?

Đại biểu cho biết, năm 2025, toàn vùng có khoảng 65.000 doanh nghiệp đang hoạt động, tương đương 4,1 doanh nghiệp trên 1.000 dân; tỷ lệ này trên dưới 41% mức bình quân của cả nước. Vai trò của đồng bằng sông Cửu Long trong tổng thể doanh nghiệp cả nước cũng thay đổi đáng kể: năm 2000, vùng chiếm khoảng 22% tổng số doanh nghiệp cả nước, đến năm 2024 chỉ còn khoảng 7%; từ năm 2023, vùng trở thành nơi có mật độ doanh nghiệp thấp nhất cả nước.
“Dù cần tính đến những thay đổi về địa giới hành chính và phương pháp thống kê, xu hướng dài hạn này đặt ra một câu hỏi: đồng bằng tiếp tục phát triển sản xuất, nhưng có phải vị thế của Vùng trong bản đồ doanh nghiệp quốc gia ngày càng thu hẹp”, đại biểu đặt vấn đề.
Theo đại biểu, đây không đơn thuần là sự khác biệt giữa một vùng nông nghiệp với các vùng công nghiệp, bởi một nền nông nghiệp hàng hóa càng phát triển thì càng cần nhiều doanh nghiệp trong các lĩnh vực cung cấp giống, vật tư, công nghệ, cơ giới hóa, bảo quản, chế biến, logistics và tổ chức thị trường. Một vùng sản xuất lớn không nhất thiết phải có thật nhiều doanh nghiệp trực tiếp trồng lúa, nuôi cá hay trồng cây ăn trái, nhưng cần một hệ thống doanh nghiệp đủ mạnh để kết nối những hoạt động sản xuất phân tán thành các chuỗi giá trị có sức cạnh tranh.
“Vùng có nhiều nông dân giỏi, nhiều hộ sản xuất năng động, nhiều cơ sở kinh doanh giàu kinh nghiệm - đó là một nguồn lực quý. Nhưng một người nông dân, dù giỏi đến đâu, cũng khó tự mình tổ chức được hệ thống kiểm định, bảo quản và phân phối quy mô lớn. Một cơ sở chế biến nhỏ khó có thể tự đầu tư đầy đủ vào công nghệ, nghiên cứu thị trường và phát triển thương hiệu. Những công việc ấy cần doanh nghiệp, cần những tổ chức kinh tế chuyên nghiệp và những mối liên kết đủ hiệu quả”, đại biểu phân tích.
Đại biểu nhấn mạnh, không phải đồng bằng thiếu người biết làm ra của cải, mà điều cần quan tâm là phải chăng vùng đang thiếu một mạng lưới đủ dày những tổ chức có khả năng biến của cải được làm ra thành năng suất, thu nhập và động lực phát triển mới.
Từ góc nhìn đó, đại biểu cho rằng mật độ doanh nghiệp thấp không chỉ là kết quả của những nút thắt đã được chỉ ra, mà còn có thể trở thành một yếu tố làm chậm sự phát triển trong tương lai. Khi doanh nghiệp chưa nhiều, nhu cầu đối với dịch vụ chuyên môn, công nghệ và lao động có kỹ năng cũng hạn chế. Thị trường dịch vụ chưa đủ phát triển lại làm tăng khó khăn cho những doanh nghiệp muốn đầu tư. Cơ hội kinh doanh và việc làm chưa đủ hấp dẫn tiếp tục ảnh hưởng đến khả năng thu hút vốn và nhân lực.
Bên cạnh đó, sức chống chịu của cộng đồng doanh nghiệp hiện hữu cũng đang là vấn đề đặt ra. Số liệu cho thấy, năm 2025, Đồng bằng có 20.457 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, tăng 64,63% so với năm trước, trong khi số liệu tương ứng cả nước là 14,8%.

“Có thể nói, đằng sau mỗi doanh nghiệp là những việc làm, những mối quan hệ thị trường và những năng lực kinh doanh được tích lũy qua nhiều năm. Vì thế, phát triển doanh nghiệp không thể chỉ được đo bằng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, mà còn phải được nhìn nhận qua khả năng tồn tại, phát triển và liên tục tạo ra những cơ hội kinh tế mới”, đại biểu Tạ Minh Tâm nhấn mạnh.
Theo đại biểu Tạ Minh Tâm, phát triển doanh nghiệp không chỉ là chính sách kinh tế, mà còn là chính sách giữ chân con người, củng cố cộng đồng và bảo đảm sự phát triển của đồng bằng.
Năng suất thấp, khó giữ chân lao động có kỹ năng
Giai đoạn 2019 - 2023, năng suất lao động của đồng bằng sông Cửu Long thuộc nhóm thấp của cả nước. Năng suất lao động công nghiệp chỉ khoảng 1/2 mức trung bình quốc gia; năng suất khu vực dịch vụ khoảng 2/3. Năm 2025, tỷ lệ lao động có việc làm đã qua đào tạo của vùng đạt 16,5%, so với 25,1% của vùng xếp liền kề phía trên là Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Đại biểu cho rằng, những khoảng cách này phần nào giải thích vì sao nhiều người trẻ có chuyên môn tìm kiếm cơ hội nghề nghiệp bên ngoài đồng bằng.
“Dịch chuyển lao động không nhất thiết là điều tiêu cực. Một thị trường lao động quốc gia thông suốt cho phép người lao động tìm đến nơi có cơ hội tốt hơn. Nhưng khi một địa phương, một khu vực không tạo ra đủ việc làm có thu nhập và triển vọng nghề nghiệp hấp dẫn, dịch chuyển lao động có thể trở thành biểu hiện của sự thiếu hụt cơ hội phát triển tại chỗ. Và khi người trẻ, lao động có kỹ năng, kỹ sư, nhà quản trị và những người có khát vọng khởi nghiệp rời đi, doanh nghiệp địa phương càng khó tuyển dụng, đổi mới và mở rộng sản xuất”, đại biểu phân tích.
Đại biểu Tạ Minh Tâm dẫn nhận định tại Báo cáo thường niên kinh tế năm 2025 - vùng Đồng bằng sông Cửu Long do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cùng các đối tác thực hiện, công bố cuối tháng 5/2026: “Muốn tăng trưởng nhanh và bền vững trong giai đoạn tới, Đồng bằng Sông Cửu Long phải xoay trục từ chú trọng sản xuất nông nghiệp sang phát triển kinh tế nông nghiệp, với nền tảng và động lực chính là khu vực doanh -nghiệp.
Các nút thắt thiếu hạ tầng, thiếu nhân lực, chịu áp lực biến đổi khí hậu hay cần liên kết vùng đã chỉ ra - chỉ có thể được tháo gỡ một cách bền vững khi Vùng hình thành được một hệ sinh thái doanh nghiệp đủ năng lực tổ chức chuỗi giá trị, tận dụng hạ tầng, chuyển hóa tài nguyên thành sản phẩm có giá trị cao và biến tiêu chuẩn thị trường thành năng lực cạnh tranh. Doanh nghiệp vì vậy không chỉ là đối tượng thụ hưởng chính sách mà là chủ thể tổ chức mô hình phát triển mới của đồng bằng Sông Cửu Long".
Vượt qua giới hạn địa giới hành chính trong liên kết kinh tế
Đại biểu Tạ Minh Tâm đề nghị đặt vấn đề phát triển doanh nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long ở góc độ vùng. Theo đại biểu, đồng bằng có một cấu trúc kinh tế với nhiều nét đặc thù: sản xuất nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn nhưng phân tán; các chuỗi sản xuất, chế biến và thương mại trải rộng qua nhiều địa phương; thị trường, logistics và các dịch vụ chuyên nghiệp gắn bó chặt chẽ với TP. Hồ Chí Minh và vùng Đông Nam Bộ. Bên cạnh đó, vùng còn chịu những sức ép riêng từ biến đổi khí hậu, tài nguyên nước, chuyển dịch lao động và những thay đổi trong tổ chức không gian kinh tế.
Trong điều kiện ấy, nhiều vấn đề phát triển doanh nghiệp không thể được giải quyết đầy đủ trong phạm vi từng tỉnh, thành phố. Hoạt động của doanh nghiệp mang tính vùng, nhưng nhiều điều kiện và chính sách phát triển doanh nghiệp vẫn được tổ chức chủ yếu theo địa giới hành chính. Đại biểu đánh giá đây là điểm chưa tương thích cần được quan tâm.
Ghi nhận Trung ương đã dành nhiều nguồn lực và sự quan tâm cho quy hoạch vùng, kết cấu hạ tầng, liên kết vùng và chuyển đổi mô hình phát triển, đại biểu đặt câu hỏi: Nếu hạ tầng ngày càng được cải thiện mà cộng đồng doanh nghiệp vẫn thưa thớt, ai sẽ là lực lượng biến những điều kiện phát triển ấy thành năng lực kinh tế thực tế?
"Một tuyến cao tốc không tự tạo ra doanh nghiệp. Một cảng biển không tự tạo ra thị trường. Chính doanh nghiệp mới là chủ thể tổ chức các nguồn lực thành sản phẩm, dịch vụ, việc làm và thu nhập", đại biểu khẳng định.
Từ thực tế đó, đại biểu Tạ Minh Tâm kiến nghị, bên cạnh vai trò chủ động của các địa phương theo phân cấp hiện hành, nên chăng nghiên cứu triển khai một Khung giải pháp phát triển doanh nghiệp đặc thù cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Khung giải pháp này xuất phát từ việc nhận diện đúng những nguyên nhân khiến mật độ doanh nghiệp của Đồng bằng thấp kéo dài; phù hợp với đặc điểm kinh tế nông nghiệp, thị trường liên tỉnh, sự liên kết với vùng Đông Nam Bộ và các điều kiện phát triển riêng của vùng; đủ sức giải quyết những vấn đề mà từng địa phương khó có thể tự mình xử lý. Đây cũng là giải pháp cụ thể hóa chủ trương phát triển kinh tế tư nhân của Nghị quyết số 68-NQ/TW phù hợp với điều kiện đặc thù của đồng bằng.

