Diễn đàn

“Bản đồ dân nguyện” - cơ sở chuyển mạnh sang giám sát dựa trên dữ liệu, bằng chứng thực tiễn

Ths. Nguyễn Văn Diệu, Phó Chánh Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND thành phố Đà Nẵng • 13/10/2026 06:00

“Bản đồ dân nguyện” có thể được hiểu là hệ thống dữ liệu trực quan hóa các ý kiến, kiến nghị của cử tri theo địa bàn, lĩnh vực, cơ quan chịu trách nhiệm, thời điểm phát sinh, tiến độ và kết quả giải quyết; hướng đến biến dữ liệu thành công cụ phục vụ quản lý, giám sát và ra quyết định. Dữ liệu dân nguyện có thể trở thành một “bộ cảm biến” phản ánh những vấn đề phát sinh từ cơ sở; là cơ sở để chuyển mạnh từ giám sát theo báo cáo sang giám sát dựa trên dữ liệu và bằng chứng thực tiễn.

Biến dữ liệu thành công cụ quản lý, giám sát, ra quyết định

Sau hợp nhất, thành phố Đà Nẵng có không gian phát triển rộng hơn, bao gồm khu vực đô thị, nông thôn, miền núi, ven biển và những địa bàn đang phát triển mạnh về hạ tầng, đô thị hóa. Cùng với việc tổ chức mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, yêu cầu phân định thẩm quyền, trách nhiệm và cơ chế phối hợp giữa thành phố với xã, phường cũng trở nên rõ nét hơn. Quy mô không gian hành chính mở rộng đồng nghĩa các vấn đề dân sinh đa dạng, phức tạp hơn.

Thực tiễn từ ngày 1/7/2025 đến nay cho thấy, quy mô công việc dân nguyện ngày càng lớn, yêu cầu đặt ra không còn đơn giản là “tiếp nhận được bao nhiêu kiến nghị”, mà phải trả lời được: kiến nghị đang ở đâu; thuộc trách nhiệm của cơ quan nào; đã được xử lý đến đâu; đang vướng ở khâu nào; vì sao chậm; khi nào hoàn thành; kết quả thực tế có giải quyết được vấn đề người dân phản ánh hay chưa? Nếu không trả lời được những câu hỏi đó, công tác dân nguyện dễ rơi vào tình trạng “đầu vào đầy đủ nhưng đầu ra khó đo lường”…

Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Đà Nẵng tổ chức tọa đàm “Đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tiếp xúc cử tri trong điều kiện thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp”
Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Đà Nẵng tổ chức tọa đàm “Đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tiếp xúc cử tri trong điều kiện thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp”. Ảnh: Vinh Anh

Tại tọa đàm “Đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động TXCT với đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND thành phố trong điều kiện thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp”, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Nguyễn Đình Vĩnh đặt vấn đề có nên nghiên cứu xây dựng “Bản đồ dân nguyện” của thành phố.

Về bản chất, “Bản đồ dân nguyện” có thể được hiểu là hệ thống dữ liệu trực quan hóa các ý kiến, kiến nghị của cử tri theo địa bàn, lĩnh vực, cơ quan chịu trách nhiệm, thời điểm phát sinh, tiến độ và kết quả giải quyết. Theo cách tiếp cận này, mỗi kiến nghị không còn chỉ là một dòng trong bảng tổng hợp mà trở thành một “điểm dữ liệu” có hồ sơ và lịch sử xử lý. Khi lựa chọn một địa bàn, cơ quan dân cử có thể nhận diện những nhóm vấn đề được người dân phản ánh nhiều nhất. Khi lựa chọn một lĩnh vực, có thể theo dõi kiến nghị về đất đai, quy hoạch, giao thông, môi trường, an sinh xã hội... đang tập trung ở đâu và thuộc trách nhiệm của cơ quan nào.

Quan trọng hơn, hệ thống có thể thể hiện trạng thái của từng kiến nghị: đã hoàn thành, đang xử lý, quá hạn, chưa thể giải quyết hoặc tái diễn. Từ đó hình thành một “bức tranh dân nguyện” được cập nhật liên tục. Đây là điểm khác biệt giữa số hóa hồ sơ và quản trị dữ liệu dân nguyện. Nếu số hóa chỉ chuyển tài liệu giấy thành dữ liệu điện tử, “Bản đồ dân nguyện” hướng đến biến dữ liệu thành công cụ phục vụ quản lý, giám sát và ra quyết định.

“Bộ cảm biến” phản ánh những vấn đề phát sinh từ cơ sở

Giá trị lớn hơn của “Bản đồ dân nguyện” không chỉ nằm ở khả năng theo dõi từng kiến nghị mà còn ở khả năng phát hiện xu hướng. Nếu một khu vực liên tục xuất hiện kiến nghị về ngập úng, giao thông, môi trường hoặc quy hoạch, dữ liệu có thể cho thấy đây không còn là những phản ánh đơn lẻ mà là vấn đề cần được xem xét ở phạm vi rộng hơn. Nếu cùng một vấn đề xuất hiện tại nhiều xã, phường, có thể thấy vấn đề đã vượt khỏi phạm vi một địa bàn và cần được nghiên cứu ở cấp thành phố. Nếu một kiến nghị lặp lại qua nhiều kỳ TXCT, hệ thống có thể nhận diện đó là kiến nghị tái diễn hoặc tồn đọng. Đây sẽ là cơ sở để cơ quan dân cử lựa chọn nội dung khảo sát, giám sát, giải trình hoặc chất vấn. Theo hướng này, dữ liệu dân nguyện có thể trở thành một “bộ cảm biến” phản ánh những vấn đề phát sinh từ cơ sở.

Hệ thống cũng có thể thiết lập cảnh báo đối với kiến nghị sắp đến hạn, quá hạn, tồn đọng hoặc được phản ánh nhiều lần. Lịch sử xử lý được lưu giữ sẽ giúp xác định vấn đề phát sinh từ thời điểm nào, đã được chuyển đến đâu, cơ quan nào trả lời và còn vướng mắc ở khâu nào. Đây là cơ sở để hoạt động giám sát chuyển mạnh từ giám sát theo báo cáo sang giám sát dựa trên dữ liệu và bằng chứng thực tiễn.

Để xây dựng “Bản đồ dân nguyện”, cần một lộ trình phù hợp, bắt đầu từ chuẩn hóa quy trình, dữ liệu và trách nhiệm, trước khi mở rộng các tính năng công nghệ. Trước hết, cần thống nhất bộ tiêu chí dữ liệu và quy trình xử lý kiến nghị trên toàn thành phố; xây dựng mã định danh cho từng kiến nghị; thống nhất cách phân loại lĩnh vực, địa bàn, thẩm quyền và trạng thái xử lý. Tiếp đó, hình thành cơ sở dữ liệu dùng chung giữa các cơ quan liên quan, bảo đảm nguyên tắc liên thông, phân quyền, an toàn thông tin và trách nhiệm cập nhật dữ liệu.

Trên nền tảng đó, từng bước phát triển các chức năng trực quan hóa, cảnh báo quá hạn, nhận diện kiến nghị tái diễn, phân tích theo địa bàn và lĩnh vực; đồng thời kết nối với các kênh tiếp nhận phản ánh, cơ chế giám sát của HĐND, hoạt động của Mặt trận và việc phản hồi kết quả cho cử tri. Từ những dữ liệu đó, cơ quan dân cử có thêm cơ sở xác định vấn đề cần giám sát; cơ quan quản lý có thêm căn cứ để điều hành; người dân có thêm thông tin để theo dõi kết quả giải quyết.

“Bản đồ dân nguyện” có thể được hiểu là công cụ trực quan hóa và theo dõi toàn bộ vòng đời của ý kiến, kiến nghị của người dân, từ khi tiếp nhận đến khi xử lý và phản hồi. Cốt lõi là chuyển công tác dân nguyện từ việc ghi nhận, tổng hợp đơn thuần sang một quy trình có thể theo dõi, quản lý và giám sát theo trình tự: Tiếp nhận → Phân loại → Chuyển xử lý → Theo dõi → Đôn đốc → Giám sát → Phản hồi. Ý tưởng xây dựng “Bản đồ dân nguyện” tại thành phố Đà Nẵng mở ra hướng tiếp cận mới: chuyển dữ liệu kiến nghị của cử tri từ những thông tin rời rạc thành hệ thống dữ liệu có cấu trúc, có địa chỉ, trạng thái và có thể theo dõi xuyên suốt quá trình giải quyết, nhằm đổi mới phương thức nắm bắt tiếng nói Nhân dân, nâng cao hiệu quả giám sát của cơ quan dân cử, hướng tới quản trị dân nguyện minh bạch, có trách nhiệm, dựa trên cơ sở dữ liệu.

    “Bản đồ dân nguyện” - cơ sở chuyển mạnh sang giám sát dựa trên dữ liệu, bằng chứng thực tiễn
    • Mặc định