Bắc Ninh: Đặt mục tiêu đến năm 2030 kinh tế số chiếm 45% GRDP
UBND tỉnh Bắc Ninh vừa ban hành Kế hoạch phát triển kinh tế số và xã hội số giai đoạn 2026 – 2030, xác định đây là định hướng chiến lược, là cơ hội để tỉnh bứt phá trong quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Theo đó, Bắc Ninh đặt mục tiêu đến năm 2030, kinh tế số chiếm khoảng 45% GRDP của tỉnh; tỷ lệ doanh nghiệp nhỏ và vừa ứng dụng công nghệ số đạt 60%; ít nhất 40% doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo; chi cho nghiên cứu và phát triển (R&D) đạt tối thiểu 2% GRDP. Cùng với đó, tỉnh phấn đấu xây dựng hệ sinh thái dữ liệu mở với tối thiểu 20 bộ dữ liệu chất lượng cao phục vụ phát triển kinh tế số và xã hội số.
Đối với phát triển xã hội số, Bắc Ninh hướng tới phổ cập hạ tầng số hiện đại, với 100% dân số được phủ sóng 5G và có khả năng truy cập băng rộng tốc độ cao; 80% người dân có tài khoản định danh điện tử; 95% dân số trưởng thành có tài khoản giao dịch tài chính; 80% người trưởng thành có chữ ký số hoặc chữ ký điện tử cá nhân. Đặc biệt, tỉnh đặt mục tiêu 90% người dân tiếp cận các dịch vụ số trong các lĩnh vực thiết yếu như y tế, giáo dục, giao thông; 95% người dân có sổ sức khỏe điện tử; 80% giao dịch được thực hiện không dùng tiền mặt.

Kế hoạch cũng nhấn mạnh quan điểm phát triển kinh tế số và xã hội số theo chiều sâu, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, trong đó chính quyền đóng vai trò kiến tạo, dẫn dắt thông qua hoàn thiện thể chế, chính sách và nâng cao năng lực quản trị số. Doanh nghiệp công nghệ số tư nhân được xác định là lực lượng quan trọng trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, góp phần thúc đẩy các mô hình kinh doanh mới.
Để hiện thực hóa các mục tiêu đề ra, tỉnh Bắc Ninh tập trung phát triển đồng bộ các nền tảng cốt lõi, gồm thể chế, hạ tầng số, nền tảng số, dữ liệu số, nhân lực số và bảo đảm an toàn, an ninh mạng. Trong đó, dữ liệu được xác định là nguồn tài nguyên chiến lược, đóng vai trò là yếu tố sản xuất mới, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng.
Tỉnh sẽ đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện hành lang pháp lý, triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đối với các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), chuỗi khối (Blockchain), Internet vạn vật (IoT). Đồng thời, thí điểm mô hình quản trị số và đô thị thông minh tại các khu công nghiệp, khu công nghệ cao, từng bước hình thành các khu kinh tế số và khu công nghiệp thông minh.
Về hạ tầng số, Bắc Ninh chú trọng phát triển mạng 5G, IoT thế hệ mới, xóa vùng lõm sóng, phổ cập kết nối số an toàn đến từng người dân. Các nền tảng số dùng chung của tỉnh và nền tảng quốc gia sẽ được tích hợp, khai thác hiệu quả, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và cung cấp dịch vụ công.
Song song đó, tỉnh thúc đẩy chuyển đổi trí tuệ nhân tạo (AI) trong các ngành, lĩnh vực, hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng AI trong quản trị, sản xuất, kinh doanh; nâng cao năng suất lao động, hiệu quả vận hành. Công tác bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng được xác định là điều kiện tiên quyết, góp phần tạo dựng niềm tin của người dân và doanh nghiệp trong môi trường số.
Trong các lĩnh vực cụ thể, Bắc Ninh định hướng phát triển nông nghiệp số toàn diện, ứng dụng công nghệ trong toàn bộ chuỗi giá trị từ sản xuất đến tiêu thụ; xây dựng nền tảng dữ liệu nông nghiệp, triển khai truy xuất nguồn gốc và các giải pháp IoT trong canh tác. Lĩnh vực tài nguyên, môi trường sẽ được số hóa mạnh mẽ, phục vụ phát triển xanh, bền vững.
Đối với công nghiệp và thương mại, tỉnh tập trung chuyển đổi các nhà máy truyền thống sang mô hình nhà máy thông minh; phát triển thương mại điện tử, logistics số, thúc đẩy xuất khẩu thông qua nền tảng số. Ngành du lịch, văn hóa được đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số nhằm nâng cao trải nghiệm du khách, quảng bá hình ảnh địa phương, phát triển công nghiệp văn hóa.
Trong lĩnh vực giáo dục, y tế và lao động, Bắc Ninh hướng tới số hóa toàn diện, xây dựng hệ sinh thái dịch vụ số, hình thành dữ liệu theo thời gian thực, phục vụ quản lý và cung cấp dịch vụ công hiệu quả. Đặc biệt, phát triển nguồn nhân lực số được xác định là yếu tố then chốt, với mô hình đào tạo gắn với thực tiễn, liên kết chặt chẽ giữa nhà trường và doanh nghiệp.
Để bảo đảm triển khai hiệu quả, tỉnh đề ra các giải pháp đồng bộ về tổ chức bộ máy, huy động nguồn lực, thúc đẩy hợp tác công – tư, mở rộng hợp tác quốc tế, tăng cường nghiên cứu, phát triển công nghệ mới. Công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức được chú trọng nhằm lan tỏa tinh thần chuyển đổi số trong toàn xã hội.

