Kinh tế

Xuất khẩu rau quả không thể chỉ dựa vào sầu riêng

Trúc Oanh 15/08/2026 06:13

Xuất khẩu rau quả đang tăng trưởng mạnh, mở ra kỳ vọng chinh phục mốc 10 tỷ USD trong năm nay. Phó Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam NGUYỄN ĐÌNH TÙNG cho rằng, để duy trì đà tăng trưởng, ngành cần có thêm những “trụ cột” mới, nâng chuẩn chất lượng và đa dạng hóa thị trường.

Tìm thêm động lực tăng trưởng ngoài sầu riêng

- Xuất khẩu rau quả 7 tháng ghi nhận tăng trưởng mạnh. Theo ông, những yếu tố nào tạo nên kết quả này?

- Trong tháng 7/2026, xuất khẩu rau quả của cả nước đạt khoảng 1,06 tỷ USD, tăng 38% so với cùng kỳ năm 2025. Đây là lần đầu tiên kim ngạch xuất khẩu rau quả vượt mốc 1 tỷ USD trong một tháng. Lũy kế 7 tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 4,76 tỷ USD, tăng 23% so với cùng kỳ năm trước.

anh-bao-thang.png
Phó Chủ tịch Hiệp hội Rau Quả Việt Nam Nguyễn Đình Tùng. Ảnh: Bảo Thắng

Sầu riêng tiếp tục là mặt hàng chủ lực, đóng góp hơn 50% tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành. Nhiều mặt hàng khác như dừa, xoài, chuối, chanh leo và rau quả chế biến cũng ghi nhận tăng trưởng tích cực.

Về thị trường, Trung Quốc tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của rau quả Việt Nam. Trong 7 tháng năm 2026, xuất khẩu sang Trung Quốc đạt hơn 2 tỷ USD, chiếm 55% tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành.

Các thị trường khác cũng tiếp tục ghi nhận mức tăng trưởng tích cực lần lượt là Hoa Kỳ chiếm 7,9%; Hàn Quốc chiếm 4,6%; Liên minh châu Âu (EU) chiếm 5,8% tổng kim ngạch xuất khẩu.

Sự bứt phá trong 7 tháng là kết quả của quá trình mở cửa thị trường và việc triển khai hiệu quả các nghị định thư mà Việt Nam đã ký kết thời gian qua. Bên cạnh đó, động lực lớn nhất vẫn là sự bùng nổ của sầu riêng, cùng với tăng trưởng ổn định của các mặt hàng khác khi nông dân và doanh nghiệp ngày càng tuân thủ tốt hơn các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường nhập khẩu.

- Như vậy, mục tiêu xuất khẩu 10 tỷ USD trong năm nay có khả thi không, thưa ông?

- Tôi cho rằng 10 tỷ USD là con số rất tham vọng nhưng không phải không thể đạt được. Những tháng cuối năm là thời điểm nhu cầu tiêu dùng tăng cao tại nhiều thị trường nhập khẩu lớn do bước vào mùa lễ hội. Nếu tận dụng tốt cơ hội này, đồng thời duy trì chất lượng, không để xảy ra sự cố về kiểm dịch thực vật hay mã số vùng trồng, ngành rau quả hoàn toàn có thể lập kỷ lục xuất khẩu mới.

- Hiện, sầu riêng đóng góp hơn 50% kim ngạch xuất khẩu rau quả, trong khi nhiều mặt hàng như chuối, dừa, xoài, chanh leo cũng đang tăng trưởng tốt. Theo ông, cần làm thế nào để ngành có thêm những “trụ cột” xuất khẩu mới?

- Sầu riêng đang làm rất tốt vai trò đầu tàu, nhưng để phát triển bền vững, chúng ta không thể chỉ dựa vào một loại quả. Thực tế cho thấy, dư địa của các mặt hàng như dừa tươi, bưởi, nhãn là rất lớn.

Để biến những mặt hàng này thành "trụ cột" mới, ngành cần tập trung vào hai việc. Một mặt, đẩy mạnh đàm phán mở cửa chính ngạch cho đa dạng các loại trái cây vào các thị trường lớn. Mặt khác, bản thân doanh nghiệp và nông dân phải quy hoạch vùng trồng bài bản hơn, áp dụng các tiêu chuẩn GlobalGAP, VietGAP ngay từ đầu. Chúng ta phải bán những gì thị trường thế giới cần, chẳng hạn như trái cây organic, trái cây đạt chuẩn sạch, chứ không chỉ bán những gì chúng ta sẵn có.

Nâng chuẩn để giữ thị trường lớn, chinh phục thị trường khó

- Tuy có nhiều dư địa, xuất khẩu rau quả còn đối mặt với những rào cản. Theo ông, đâu là giải pháp để nâng cao giá trị nông sản và mở rộng xuất khẩu?

- Xuất khẩu rau quả hiện vẫn phải đối mặt với những rào cản về tiêu chuẩn kỹ thuật, vấn đề mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói và hạn chế về năng lực đầu tư cho chế biến sâu. Đặc biệt, tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch vẫn ở mức 30 - 40%, là sự lãng phí khổng lồ cản trở sức cạnh tranh của nông sản Việt.

Chính vì vậy, đầu tư vào công nghệ bảo quản như kho lạnh và các phương pháp xử lý đạt chuẩn chiếu xạ, hơi nước nóng là con đường duy nhất để trái cây Việt Nam, nhất là trái cây tươi, có thể vượt qua rào cản địa lý để đến với EU hay Mỹ mà vẫn giữ được độ tươi ngon.

Bên cạnh đó, đẩy mạnh chế biến sâu như cấp đông, sấy, ép nước không chỉ giúp giải quyết bài toán dội chợ rớt giá vào chính vụ, kéo dài thời gian bảo quản; mà còn gia tăng giá trị thặng dư gấp nhiều lần so với bán quả tươi. Đây là hướng đi bắt buộc nếu muốn chinh phục các thị trường xa như EU.

- Trung Quốc vẫn là thị trường chủ lực, trong khi các thị trường khó tính đang mở rộng. Doanh nghiệp cần làm gì để vừa giữ vững thị trường truyền thống, vừa đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, thưa ông?

- Trung Quốc luôn là thị trường trọng điểm nhờ lợi thế địa lý, quy mô tiêu thụ lớn và sự tương đồng về văn hóa. Tuy nhiên, doanh nghiệp cần thay đổi tư duy, bởi đây không còn là thị trường dễ tính mà ngày càng đặt ra yêu cầu cao về chất lượng, tính đồng đều và truy xuất nguồn gốc.

Hướng đi đúng là lấy việc chinh phục các tiêu chuẩn khắt khe của Mỹ, EU, Australia làm “bảo chứng” chất lượng cho thương hiệu nông sản Việt. Khi đưa được những sản phẩm như dừa, bưởi, nhãn vào các thị trường khó tính, việc giữ vững và mở rộng thị phần tại Trung Quốc cũng sẽ chủ động và thuận lợi hơn. Nói cách khác, chúng ta cần “đi bằng hai chân”: sản lượng lớn ở Trung Quốc và giá trị thương hiệu cao tại Mỹ, EU.

Muốn làm được điều đó, doanh nghiệp phải đầu tư đồng bộ từ vùng nguyên liệu, tiêu chuẩn sản xuất, bảo quản sau thu hoạch đến logistics và thương hiệu. Quan trọng nhất, đa dạng hóa thị trường không chỉ là tìm thêm nơi để bán hàng, mà phải nâng chất lượng nông sản Việt Nam đủ cao để có thể bán được ở nhiều thị trường khác nhau.

- Theo ông, những giải pháp nào cần được ưu tiên để ngành không chỉ đạt mục tiêu xuất khẩu 10 tỷ USD, mà còn duy trì tăng trưởng bền vững trong những năm tới?

- Trước hết là vấn đề mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói. Cơ quan quản lý cần có chế tài thật nghiêm đối với tình trạng gian lận, mượn mã số. Việc này ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín quốc gia và quyền lợi của những doanh nghiệp làm ăn chân chính. Ngoài ra, cần số hóa và minh bạch hệ thống quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói.

Về vốn và logistics, Nhà nước cần có những gói tín dụng ưu đãi thực chất hơn dành cho doanh nghiệp đầu tư vào hệ thống kho lạnh, nhà máy chế biến sâu và chuỗi cung ứng lạnh.

Chi phí logistics của Việt Nam hiện vẫn cao so với nhiều nước trong khu vực. Vì vậy, cần đầu tư đồng bộ hạ tầng giao thông, đặc biệt là kết nối trực tiếp từ các vùng nguyên liệu lớn tới cảng biển và sân bay quốc tế.

Nếu tháo gỡ được những điểm nghẽn này, đồng thời tiếp tục mở cửa thị trường và nâng chất lượng sản phẩm, ngành rau quả Việt Nam sẽ có nền tảng vững chắc hơn để không chỉ hướng tới mục tiêu 10 tỷ USD trong năm nay mà còn tăng trưởng bền vững trong những năm tiếp theo.

- Xin cảm ơn ông!

    Xuất khẩu rau quả không thể chỉ dựa vào sầu riêng
    • Mặc định