Xóa bỏ định kiến giới, giải quyết căn cơ tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh
Sau một thập kỷ triển khai Đề án Kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh giai đoạn 2016 - 2025 theo Quyết định số 468/QĐ-TTg ngày 23/3/2016 của Thủ tướng Chính phủ, Việt Nam đã từng bước kiểm soát tốc độ gia tăng tỷ số giới tính khi sinh. Báo cáo số 931/BC-BYT ngày 1/6/2026 của Bộ Y tế cho thấy, kết quả phản ánh xu hướng tích cực ban đầu và chưa thực sự vững chắc, cần tiếp tục giám sát chặt chẽ. Tâm lý ưa thích con trai, những hạn chế về nguồn lực, chính sách và thực thi pháp luật vẫn là các rào cản đối với việc thu hẹp chênh lệch giới tính khi sinh.
Tỷ số giới tính khi sinh giảm nhưng chưa vững chắc
Theo Cục Dân số, Bộ Y tế, tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh đã trở thành thách thức đối với sự phát triển bền vững của đất nước. Tỷ số giới tính khi sinh hiện vẫn ở mức cao, vượt ngưỡng cân bằng tự nhiên.
Năm 2025, tỷ số giới tính khi sinh là 110 bé trai/100 bé gái. Dự báo, nếu tỷ số này vẫn giữ nguyên như hiện nay, Việt Nam sẽ dư thừa 1,5 triệu nam giới trong độ tuổi 15 - 49 vào năm 2039 và tăng lên 2,5 triệu vào năm 2059 (theo Báo cáo số 1689/BC-BYT ngày 22/11/2025 đánh giá tác động chính sách Dự án Luật Dân số).
Theo Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên, số liệu đến năm 2025 cho thấy, tỷ số giới tính khi sinh của nước ta vẫn ở mức khoảng 110 bé trai/100 bé gái, trong khi mức cân bằng sinh học là khoảng 104 - 106 bé trai/100 bé gái. Chặng đường 10 năm kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh ghi nhận xu hướng chuyển biến tích cực nhưng còn nhiều dao động.

Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Đề án Kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh giai đoạn 2016 - 2025 của Bộ Y tế cho thấy, trên phạm vi toàn quốc, tỷ số giới tính khi sinh giảm trung bình 0,32 điểm phần trăm mỗi năm, từ 112,2 bé trai/100 bé gái sinh ra sống năm 2016 xuống còn 109 bé trai/100 bé gái tại thời điểm ngày 1/4/2025. Trong khoảng thời gian này, tỷ số từng lên tới 114,8 bé trai/100 bé gái vào năm 2018 và duy trì ở ngưỡng trên 111 trong nhiều năm.
Đánh giá theo từng giai đoạn, từ năm 2016 đến năm 2020, tỷ số giới tính khi sinh chỉ giảm nhẹ 0,1 điểm phần trăm, từ 112,2 xuống 112,1 bé trai/100 bé gái, tương ứng mức giảm bình quân 0,02 điểm phần trăm mỗi năm. Kết quả này đã đáp ứng mục tiêu giữ tỷ số dưới ngưỡng 115.
Bước sang giai đoạn 2021 - 2025, tỷ số giảm 3 điểm phần trăm, trung bình mỗi năm giảm 0,6 điểm phần trăm. Cụ thể, tỷ số đạt 112,0 năm 2021, giảm xuống 111,6 năm 2022, tăng nhẹ lên 111,8 năm 2023, tiếp tục giảm xuống 111,4 năm 2024 và đạt 110,0 năm 2025.
Kết quả tại thời điểm ngày 1/4/2025 đã tiệm cận mục tiêu Nghị quyết số 21-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Hội nghị lần thứ sáu Khóa XII đặt ra đến năm 2030 là đưa tỷ số giới tính khi sinh xuống dưới 109, hướng tới mức cân bằng tự nhiên từ 104 đến 106 bé trai/100 bé gái. Tuy nhiên, Bộ Y tế đánh giá đây mới là tín hiệu tích cực bước đầu, chưa thực sự bền vững. Trước đó, năm 2024 ti số giới tính khi sinh vẫn ở mức cao so với ngưỡng cân bằng tự nhiên, tiềm ẩn nhiều thách thức và nguy cơ tăng trở lại.
Trong giai đoạn 2021 - 2024, tỷ số giới tính khi sinh vẫn dao động từ 111,4 bé trai/100 bé gái trở lên, có sự khác biệt đáng kể giữa các năm, vùng miền và địa phương. Một số địa phương vẫn ghi nhận tỷ số cao, thậm chí tăng cục bộ. Tại các địa phương thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng, tỷ số phổ biến ở mức 113 - 115, có thời điểm vượt ngưỡng 118 bé trai/100 bé gái. Điều này cho thấy nguy cơ mất cân bằng giới tính khi sinh gia tăng trở lại nếu các biện pháp can thiệp không được duy trì thường xuyên, liên tục và đủ mạnh.
Theo Bộ Y tế, nếu xu hướng mất cân bằng giới tính khi sinh gia tăng trở lại, chênh lệch giới tính trong độ tuổi kết hôn sẽ ngày càng lớn, dẫn đến tình trạng dư thừa nam giới, thiếu hụt nữ giới và tạo sức ép hôn nhân. Một bộ phận nam giới có thể phải kết hôn muộn hoặc không có khả năng kết hôn.
Hệ lụy không chỉ dừng ở những biến động về nhân khẩu học mà còn tác động đến đời sống cá nhân, gia đình và xã hội, có thể làm xáo trộn cấu trúc gia đình, gia tăng nguy cơ bất bình đẳng giới, mua bán phụ nữ và trẻ em gái, mại dâm, bạo lực giới, tội phạm xuyên quốc gia cùng nhiều vấn đề xã hội khác.
Định kiến giới và áp lực phải sinh con trai
Các yếu tố văn hóa - xã hội là một trong những nguyên nhân gốc rễ khiến tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh kéo dài. Tâm lý ưa thích con trai vẫn tồn tại ở một bộ phận người dân, đặc biệt tại một số vùng và nhóm dân cư. Nhiều gia đình vẫn kỳ vọng có con trai để nối dõi tông đường, thờ cúng tổ tiên hoặc coi con trai là chỗ dựa, người phụng dưỡng khi về già.
Tại một số địa phương, áp lực từ gia đình, dòng họ cùng tâm lý muốn dự phòng rủi ro khi về già vẫn có thể thúc đẩy các cặp vợ chồng lựa chọn giới tính thai nhi. Đây là vấn đề khó giải quyết trong thời gian ngắn, bởi quyết định sinh con chịu ảnh hưởng của những quan niệm đã tồn tại lâu dài về vai trò của nam giới và phụ nữ trong gia đình.

Thực tiễn công tác dân số tại cơ sở cho thấy rõ những áp lực ấy. Chị La Thị Huệ, cán bộ y tế trực tiếp làm công tác dân số tại xã biên giới Hoành Mô, Quảng Ninh cho biết, công việc hàng ngày của chị và các đồng nghiệp gắn với những con dốc cheo leo, những con suối ngập nước vào mùa mưa lũ, các báo cáo thống kê và những buổi truyền thông dân số tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Quá trình bám bản, bám làng giúp chị nhận ra rằng, đằng sau mỗi con số chênh lệch về giới tính khi sinh là những câu chuyện đời thực, những nỗi niềm không dễ nói thành lời. Theo chị Huệ, đó là sự âu lo của người phụ nữ khi bước vào phòng sinh, những giọt nước mắt thầm lặng của người mẹ vùng cao trước áp lực phải sinh con trai để nối dõi tông đường, hay nỗi tủi hờn của những đứa trẻ vừa chào đời nhưng không được gia đình đón nhận bằng niềm vui trọn vẹn.
Những câu chuyện ấy cho thấy định kiến giới không chỉ tác động đến lựa chọn sinh con mà còn ảnh hưởng đến cách gia đình đón nhận, nhìn nhận giá trị của trẻ em gái. Áp lực phải sinh con trai vì thế vừa là nguyên nhân của tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh, vừa đặt thêm gánh nặng lên phụ nữ.
Rào cản về công nghệ, nguồn lực và quản lý
Bên cạnh các yếu tố văn hóa - xã hội, sự phát triển nhanh của khoa học, công nghệ y tế tạo thêm thách thức đối với công tác kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh. Các kỹ thuật giúp xác định sớm giới tính thai nhi ngày càng phổ biến, dễ tiếp cận, đặc biệt tại khu vực y tế tư nhân, khiến việc quản lý, giám sát khó khăn hơn.
Không gian mạng cũng trở thành địa bàn phức tạp khi hoạt động quảng cáo, cung cấp thông tin liên quan đến lựa chọn giới tính thai nhi diễn ra ngày càng tinh vi. Trong khi đó, cơ chế giám sát và chế tài xử lý vi phạm trên môi trường mạng chưa theo kịp thực tế.
Một hạn chế đáng chú ý khác là nguồn lực dành cho kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh chưa được bảo đảm ổn định và lâu dài. Sau khi Chương trình mục tiêu Y tế - Dân số kết thúc vào cuối năm 2020, nguồn kinh phí từ Trung ương có xu hướng giảm. Nhiều địa phương gặp khó khăn trong cân đối ngân sách; việc bố trí kinh phí có nơi chưa kịp thời hoặc chưa tương xứng với nhu cầu, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng duy trì các mô hình và hoạt động can thiệp.
Cùng với đó, sự quan tâm giữa các địa phương cũng chưa đồng đều. Một số nơi chưa thực sự coi kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh là nhiệm vụ ưu tiên do nhận thức chưa đầy đủ về mức độ nghiêm trọng của vấn đề. Việc phối hợp giữa ngành y tế với các sở, ban, ngành ở một số địa phương chưa thường xuyên, liên tục.
Công tác truyền thông, vận động chưa thực sự đổi mới, thiếu chiều sâu; nội dung và hình thức chưa phù hợp với từng nhóm đối tượng và đặc điểm văn hóa vùng miền. Đặc biệt, truyền thông trên nền tảng số và mạng xã hội chưa theo kịp xu hướng tiếp cận thông tin của người dân, đặc biệt là giới trẻ. Trong bối cảnh các nội dung quảng bá lựa chọn giới tính thai nhi có thể lan truyền nhanh trên Internet, khoảng trống này làm giảm hiệu quả tiếp cận và tác động của công tác truyền thông.
Việc thanh tra, kiểm tra, phát hiện và xử lý vi phạm gặp nhiều khó khăn do phương thức vi phạm ngày càng tinh vi, khó thu thập chứng cứ; chế tài xử phạt đối với một số hành vi chưa đủ sức răn đe. Trong khi đó, giai đoạn 2016-2025, lực lượng thanh tra chuyên ngành dân số còn mỏng, hạn chế về số lượng, nghiệp vụ và trang thiết bị hỗ trợ. Cán bộ dân số tại cơ sở ở một số địa phương còn biến động, phải kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ, ảnh hưởng đến chất lượng tham mưu và tổ chức thực hiện.
Cùng với định kiến giới tồn tại lâu dài, các rào cản về nguồn lực, chính sách và năng lực quản lý khiến kết quả kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh chưa thực sự bền vững.

