Kinh tế

Xây dựng năng lực cho kỷ nguyên phát triển mới

GS.TS. Mạc Quốc Anh - Viện trưởng Viện Kinh tế và Phát triển doanh nghiệp 29/08/2026 10:25

Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam đã xác định những định hướng lớn nhằm tạo đột phá về thể chế, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, nguồn nhân lực và nâng cao hiệu quả huy động, phân bổ nguồn lực. Trong bối cảnh đó, xây dựng năng lực phát triển mới là yêu cầu then chốt để cụ thể hóa các định hướng chiến lược, hướng tới mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 và tầm nhìn 2045.

Từ huy động nguồn lực sang kiến tạo năng lực

Trong nhiều thập niên, tăng trưởng của các nền kinh tế đang phát triển thường gắn với khả năng huy động thêm vốn, lao động, tài nguyên, đất đai và mở rộng quy mô sản xuất. Mô hình này đã đóng góp quan trọng vào thành tựu phát triển của Việt Nam. Nhưng khi nền kinh tế bước lên trình độ cao hơn, dư địa tăng trưởng theo chiều rộng sẽ ngày càng thu hẹp.

Câu hỏi đặt ra không còn chỉ là huy động thêm bao nhiêu vốn, sử dụng thêm bao nhiêu đất đai hay tạo thêm bao nhiêu việc làm, mà là một đồng vốn tạo ra bao nhiêu giá trị gia tăng; người lao động đạt năng suất thế nào; tài nguyên được sử dụng hiệu quả ra sao; khoa học, công nghệ được chuyển hóa thành sản phẩm, doanh thu và năng lực cạnh tranh như thế nào. Đó chính là sự dịch chuyển từ tư duy “thêm nguồn lực” sang “nâng cao năng lực”.

TP. Hồ Chí Minh nhìn từ trên cao
TP. Hồ Chí Minh nhìn từ trên cao. Ảnh: Thạc Hiếu

Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam xác định đổi mới mô hình phát triển phải tạo đột phá về thể chế, đổi mới phương thức tổ chức, quản trị và vận hành quốc gia tạo ra năng lực phát triển mới; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo (AI) quốc gia là động lực chính, còn nâng cao năng suất lao động, hiệu quả huy động, phân bổ nguồn lực quốc gia là những nguyên tắc trung tâm.

Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030 hoàn thành các nền tảng cho mô hình phát triển mới; tạo đột phá về xây dựng, hoàn thiện thể chế và thực hiện quản trị quốc gia hiện đại; về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, hạ tầng chiến lược, hạ tầng năng lực tri thức quốc gia, nguồn nhân lực chất lượng cao và các doanh nghiệp dẫn dắt. Đến năm 2035, hoàn thành cơ bản quá trình chuyển đổi sang mô hình phát triển đất nước tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập.

Để hiện thực hóa những mục tiêu đó, Việt Nam cần hình thành các năng lực nền tảng về thể chế; khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; nguồn nhân lực; huy động, phân bổ nguồn lực và đặc biệt là năng lực của cộng đồng doanh nghiệp.

Doanh nghiệp là nơi các năng lực phát triển được chuyển hóa thành năng suất và của cải xã hội. Công nghệ được thương mại hóa, vốn được đưa vào sản xuất, sáng kiến trở thành sản phẩm, thị trường được mở rộng và giá trị gia tăng được tạo ra. Vì vậy, nâng cao năng lực doanh nghiệp cần được coi là một nhiệm vụ của chiến lược phát triển quốc gia.

Việt Nam cần nhiều doanh nghiệp hơn, nhưng quan trọng hơn là phải có doanh nghiệp khỏe hơn. Một doanh nghiệp khỏe phải có năng lực quản trị minh bạch, năng suất cao, khả năng ứng dụng công nghệ, quản trị dữ liệu, xây dựng thương hiệu, phát triển thị trường, đáp ứng tiêu chuẩn xanh và có sức chống chịu trước biến động.

Nâng cao năng lực doanh nghiệp để tạo động lực mới

Một vấn đề cần đặc biệt quan tâm là khả năng trưởng thành của doanh nghiệp. Chúng ta không thể bằng lòng với một nền kinh tế có nhiều doanh nghiệp nhỏ nhưng phần lớn doanh nghiệp nhỏ mãi. Cần tạo được những “nấc thang phát triển”: hộ kinh doanh trở thành doanh nghiệp; doanh nghiệp siêu nhỏ trở thành doanh nghiệp nhỏ; doanh nghiệp nhỏ thành doanh nghiệp vừa; doanh nghiệp vừa có khả năng trở thành doanh nghiệp lớn; từ đó xuất hiện ngày càng nhiều doanh nghiệp đủ sức dẫn dắt các chuỗi sản xuất, công nghệ và thị trường.

Vì vậy, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp cũng cần thay đổi, từ hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua khó khăn sang hỗ trợ hình thành năng lực tự phát triển; từ “cấp nguồn lực” sang “xây dựng năng lực”.

Năng lực phát triển mới trước hết phải được thể hiện bằng năng suất mới. Trong kỷ nguyên kinh tế số, AI, tự động hóa và dữ liệu, khoảng cách giữa các doanh nghiệp ngày càng nằm ở tốc độ học hỏi và khả năng ứng dụng công nghệ, chứ không chỉ ở quy mô vốn.

Chuyển đổi số trong doanh nghiệp vì thế không nên dừng ở số hóa hóa đơn, hồ sơ hay quy trình hành chính, mà phải tiến tới số hóa sản xuất, chuỗi cung ứng, quản trị khách hàng, tài chính và ra quyết định dựa trên dữ liệu. AI cũng cần được nhìn nhận như một công cụ nâng cao năng suất của hàng triệu doanh nghiệp, chứ không chỉ dành cho doanh nghiệp công nghệ.

Một nội dung quan trọng của mô hình phát triển mới là nâng cao hiệu quả huy động và phân bổ nguồn lực. Nền kinh tế không phải lúc nào cũng thiếu nguồn lực; vấn đề nhiều khi nằm ở chỗ nguồn lực chưa được lưu chuyển đến đúng nơi có khả năng sử dụng hiệu quả nhất. Doanh nghiệp có dự án tốt nhưng thiếu vốn; muốn đổi mới công nghệ nhưng khó tiếp cận nguồn tài chính dài hạn; trường đại học có nghiên cứu nhưng thiếu doanh nghiệp thương mại hóa; doanh nghiệp lớn cần nhà cung ứng trong nước nhưng doanh nghiệp nhỏ chưa đạt tiêu chuẩn.

Khơi thông nguồn lực vì thế phải đồng thời khơi thông vốn, công nghệ, dữ liệu, đất đai, nhân lực và thị trường. Vai trò của Nhà nước trong mô hình này không phải làm thay thị trường mà là kiến tạo điều kiện để thị trường vận hành minh bạch hơn, cạnh tranh hơn và hiệu quả hơn. Nghị quyết 19 nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ tư duy quản lý, kiểm soát sang kiến tạo, dẫn dắt phát triển; quản trị dựa trên dữ liệu, đo lường bằng kết quả và tác động phát triển.

Một nền kinh tế muốn vươn lên các nấc thang cao hơn của chuỗi giá trị cần có những doanh nghiệp dẫn dắt. Doanh nghiệp dẫn dắt không nhất thiết chỉ được hiểu là doanh nghiệp có quy mô rất lớn, mà có thể là doanh nghiệp dẫn đầu về công nghệ trong một lĩnh vực, sở hữu thương hiệu mạnh, làm chủ một thị trường ngách toàn cầu hoặc có khả năng hình thành một hệ sinh thái doanh nghiệp cung ứng.

Điều quan trọng là Việt Nam phải tạo ra ngày càng nhiều doanh nghiệp có khả năng tổ chức chuỗi giá trị, thay vì chủ yếu tham gia ở những công đoạn có giá trị gia tăng thấp. Để làm được điều đó, cần thúc đẩy mạnh hơn sự liên kết giữa doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ, giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước, giữa doanh nghiệp với viện nghiên cứu, trường đại học, quỹ đầu tư và tổ chức tài chính.

Khát vọng phát triển phải được chuyển hóa thành năng lực

Chính sách tốt rất quan trọng, nhưng không thể thay thế trách nhiệm tự đổi mới của doanh nghiệp. Trong giai đoạn tới, mỗi doanh nghiệp cần tự trả lời: năng suất của mình đang ở đâu; công nghệ nào có thể thay đổi mô hình kinh doanh; nguồn nhân lực nào cần được chuẩn bị cho những năm tới; doanh nghiệp có thể tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị nào; và lợi thế cạnh tranh sẽ là gì khi thị trường thay đổi?

Doanh nghiệp không thể tiếp tục cạnh tranh lâu dài chủ yếu bằng lao động rẻ, giá thấp hay khai thác những lợi thế ngắn hạn. Lợi thế mới phải được hình thành từ công nghệ, chất lượng, dữ liệu, sở hữu trí tuệ, thương hiệu, quản trị và khả năng đổi mới liên tục. Đặc biệt, đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, cần chuyển tư duy từ “chờ hỗ trợ” sang chủ động nâng cấp.

Nghị quyết số 19-NQ/TW mở ra một tầm nhìn phát triển dài hạn, trong đó mục tiêu không đơn thuần là một nền kinh tế lớn hơn, mà là một đất nước có năng lực tự cường cao hơn, sáng tạo hơn, nhân văn hơn, bền vững hơn và hội nhập sâu hơn.

Để biến tầm nhìn ấy thành hiện thực, cần hình thành một nhận thức chung: khát vọng phát triển chỉ có thể trở thành hiện thực khi được chuyển hóa thành năng lực phát triển. Năng lực ấy nằm trong chất lượng thể chế; trong đội ngũ cán bộ biết kiến tạo; trong những nhà khoa học tạo ra công nghệ mới; trong người lao động có kỹ năng cao; và đặc biệt trong hàng triệu doanh nhân, doanh nghiệp luôn tìm cách làm tốt hơn.

Bước vào giai đoạn phát triển mới, điều Việt Nam cần không chỉ là nhiều doanh nghiệp hơn mà là một thế hệ doanh nghiệp mới: có khát vọng lớn, quản trị hiện đại, năng suất cao, làm chủ công nghệ, có trách nhiệm xã hội, có khả năng cạnh tranh quốc tế và đủ bản lĩnh để vươn lên trở thành những doanh nghiệp dẫn dắt.

Khi thể chế tạo được niềm tin, khoa học, công nghệ tạo ra năng suất, nguồn lực được phân bổ hiệu quả và doanh nghiệp có đủ năng lực lớn lên, những mục tiêu phát triển cao hơn của đất nước sẽ trở thành kết quả của một năng lực quốc gia mới đang được kiến tạo.

    Xây dựng năng lực cho kỷ nguyên phát triển mới
    • Mặc định