Xây dựng không gian văn hóa kết nối hệ sinh thái sáng tạo
Để bảo tàng trở thành hạt nhân của hệ sinh thái sáng tạo, cần có những điều kiện căn bản. Đó là xây dựng ngân hàng câu chuyện văn hóa, kết nối với đội ngũ sáng tạo, cơ chế hợp tác công - tư minh bạch.
Điểm gặp của các ngành công nghiệp văn hóa
Chiều 7/7 đã diễn ra Tọa đàm “Mô hình ‘O café - Time Talks’… - Đối thoại với thời gian”. Từ mô hình Ocafe - Time Talk Hồ Gươm do Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Công nghiệp Văn hóa Việt Nam (S-DCI) xây dựng, dự kiến thử nghiệm tại Bảo tàng Hà Nội, các đại biểu chung nhận định, xây dựng quán cà phê trong bảo tàng không chỉ là một điểm dừng chân phục vụ khách tham quan. Phải thiết kế nơi đây như một không gian liên kết, một hạ tầng mềm, điểm gặp của các ngành công nghiệp văn hóa.
Theo PGS.TS. Bùi Hoài Sơn, ĐBQH hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Văn hóa và Xã hội, mô hình này còn là dịch vụ, không gian giao tiếp, ký ức, lịch sử, di sản, những tầng văn hóa được tích tụ trong đời sống cộng đồng; là nơi chia sẻ tri thức, kết nối thế hệ, làm cho di sản có tiếng nói trong hiện tại. Nếu thiết kế đúng, đây có thể còn là nơi một hiện vật bảo tàng bước ra khỏi tủ kính để trở thành câu chuyện; một câu chuyện trở thành trải nghiệm; một trải nghiệm trở thành sản phẩm sáng tạo; một sản phẩm trở thành thương hiệu; một thương hiệu trở thành động lực phát triển...

Về mô hình Ocafe - Time Talk Hồ Gươm, PGS.TS. Bùi Hoài Sơn cho rằng, nếu được triển khai đúng hướng có thể không chỉ là một không gian văn hóa mới tại Bảo tàng Hà Nội, mà có thể là một thông điệp về cách chúng ta làm công nghiệp văn hóa trong kỷ nguyên mới.
Hà Nội là nơi hội tụ nhiều lớp trầm tích văn hóa: văn hóa Thăng Long - Hà Nội, văn hóa làng, phố, văn hóa nghề, ẩm thực, kiến trúc, lễ hội… Một chuyên đề về làng nghề Hà Nội không chỉ là trưng bày sản phẩm gốm, lụa, sơn mài, kim hoàn hay giấy dó. Từ chuyên đề đó, mô hình liên kết có thể tổ chức tọa đàm với nghệ nhân, workshop cho học sinh, trình diễn kỹ thuật thủ công, kết nối nhà thiết kế trẻ với làng nghề, phát triển bộ sản phẩm lưu niệm bảo tàng, sản xuất video ngắn cho nền tảng số, xây dựng tour từ Bảo tàng Hà Nội đến Bát Tràng, Vạn Phúc, Hạ Thái, Định Công, tổ chức phiên chợ sáng tạo cuối tuần, mời nghệ sĩ biểu diễn âm nhạc lấy cảm hứng từ làng nghề, xây dựng nội dung xuất bản nhỏ, tổ chức cuộc thi thiết kế quà tặng văn hóa Hà Nội…
Như vậy, "một chủ đề di sản có thể kích hoạt du lịch văn hóa, thiết kế sáng tạo, thủ công mỹ nghệ, nghệ thuật biểu diễn, xuất bản, truyền thông, quảng cáo, giáo dục, công nghệ số và kinh tế trải nghiệm", PGS.TS. Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh.
Khai thác câu chuyện văn hóa bản địa
Để bảo tàng trở thành hạt nhân liên kết, phát triển công nghiệp văn hóa, phải xây dựng ngân hàng câu chuyện văn hóa, kết nối với đội ngũ sáng tạo, có cơ chế hợp tác công - tư minh bạch, ứng dụng công nghệ số và đo lường hiệu quả. Mô hình đó cũng cần bản sắc địa phương khi nhân rộng đến các bảo tàng khác, nghĩa là mỗi nơi phải có một phiên bản riêng, dựa trên câu chuyện văn hóa riêng của mình.
Chẳng hạn, ở Ninh Bình, mô hình có thể xoay quanh di sản cố đô, cảnh quan Tràng An, văn hóa Phật giáo, lịch sử Hoa Lư, du lịch sinh thái và điện ảnh. Ở Quảng Ninh, có thể gắn với di sản vịnh Hạ Long, văn hóa biển, văn hóa công nhân mỏ, du lịch quốc tế, nghệ thuật trình diễn và kinh tế đêm.
Tại Bắc Ninh, có thể phát triển quanh quan họ, làng nghề, lễ hội, mỹ thuật dân gian, thiết kế và du lịch văn hóa. Phú Thọ có thể gắn với tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, hát xoan, văn hóa cội nguồn, giáo dục lịch sử và sản phẩm lưu niệm quốc gia.
Hải Phòng khai thác văn hóa cảng, âm nhạc, kiến trúc đô thị, du lịch biển đảo, ẩm thực và không gian sáng tạo trẻ. Lào Cai phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số, trang phục, chợ phiên, du lịch cộng đồng, thủ công truyền thống và nghệ thuật trình diễn dân gian...

Phó Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Hà Nội Nguyễn Tiến Đạt cho rằng, từ mô hình này, cũng có thể thiết kế quà tặng bảo tàng, trải nghiệm giáo dục cho học sinh, thiết kế tour du lịch gắn với bảo tàng... Đặc biệt là có thể thu hút sự quan tâm của các đơn vị lữ hành đưa khách đến bảo tàng. Bởi việc có thêm một sản phẩm du lịch, thêm một điểm đến hấp dẫn cho du khách luôn được các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành quan tâm. Do đó, cách làm ra sao để thu hút, hấp dẫn số đông khách đến bảo tàng cũng chính là cách giải quyết cơ bản để thu hút sự vào cuộc của doanh nghiệp lữ hành.
Theo Chủ tịch Công ty Cổ phần Sản xuất giai điệu Thiên Thanh Đỗ Tuấn Anh, kết nối hệ sinh thái sáng tạo, phát triển công nghiệp văn hóa cần có cơ chế tài chính linh hoạt. Mô hình này nếu được nhân rộng cần có quỹ hỗ trợ sáng tạo, hợp tác công - tư và cơ chế tái đầu tư, có chính sách hỗ trợ cho thuê mặt bằng hấp dẫn. Mọi cơ chế tài chính phải minh bạch, có kiểm soát, có đánh giá hiệu quả và bảo đảm lợi ích công.
Xây dựng không gian sáng tạo, phát triển công nghiệp văn hóa là tạo cơ hội và không gian cho doanh nghiệp, nhưng không để thương mại hóa làm tổn thương di sản... Nhấn mạnh điều này, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Công nghiệp văn hóa Việt Nam, TS. Nguyễn Thu Hạnh cho rằng, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế, quy hoạch không gian và bảo đảm nguyên tắc bảo tồn. Doanh nghiệp là chủ thể đầu tư, vận hành và phát triển hệ sinh thái dịch vụ. Bảo tàng cung cấp nội dung, dữ liệu di sản và đồng hành trong quá trình xây dựng sản phẩm. Cộng đồng sáng tạo (nghệ sĩ, nhà thiết kế, trường đại học, doanh nghiệp sáng tạo...) là lực lượng tạo nên các sản phẩm và trải nghiệm mới. Công chúng vừa là người thụ hưởng, vừa là người đồng sáng tạo thông qua quá trình tương tác với không gian.

