Xây dựng hệ sinh thái phát triển nhiên liệu sinh học
Sau hơn một tháng triển khai xăng E10, thị trường ghi nhận phản hồi tích cực từ người tiêu dùng. Các chuyên gia cho rằng, giai đoạn tiếp theo cần tập trung xây dựng hệ sinh thái phát triển nhiên liệu sinh học, đồng thời hoàn thiện chính sách để khôi phục và mở rộng nguồn cung ethanol trong nước.
Nguồn cung trong nước còn nhiều dư địa
Sau hơn một tháng triển khai xăng E10, thị trường bước đầu ghi nhận những tín hiệu tích cực.
Tại tọa đàm "E10 - Nền tảng cho thị trường nhiên liệu sinh học phát triển bền vững" do Báo Xây dựng tổ chức chiều 13/7, TS. Đặng Tất Thành, Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công, Bộ Công Thương cho biết, Bộ đã tiếp nhận các phản ánh của người dân qua nhiều kênh chính thức, đồng thời phối hợp với các cơ quan chuyên môn, doanh nghiệp để kiểm tra, đánh giá trên cơ sở khoa học. Theo ông Thành, số lượng phản ánh, kiến nghị liên quan đến xăng E10 đã giảm đáng kể so với thời điểm mới triển khai. Người tiêu dùng cũng dần yên tâm hơn khi sử dụng loại nhiên liệu này.

Theo các chuyên gia, thách thức lớn hiện nay chính là bảo đảm nguồn cung ethanol khi nhu cầu tiếp tục tăng theo lộ trình chuyển đổi. Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam Đỗ Văn Tuấn cho biết, nhu cầu ethanol để pha chế xăng E10 khoảng 90.000 - 100.000m³ mỗi tháng. Nếu toàn bộ các nhà máy ethanol được khôi phục và vận hành đúng công suất thiết kế, sản xuất trong nước có thể đáp ứng khoảng 45 - 50% nhu cầu. Tuy nhiên, do nhiều nhà máy vẫn chưa hoạt động trở lại, nguồn cung thực tế hiện mới đáp ứng khoảng 20%.
Dù vậy, ông Tuấn cho rằng điều này không quá đáng lo, bởi dư địa phát triển ngành ethanol trong nước vẫn còn rất lớn. Khi có chính sách đủ ổn định và tạo được niềm tin cho nhà đầu tư, các dự án sẽ từng bước được khôi phục, mở rộng, qua đó nâng dần tỷ trọng ethanol sản xuất trong nước.
Nhà nước kiến tạo, doanh nghiệp làm trung tâm
Theo TS. Đặng Tất Thành, phát triển nhiên liệu sinh học không chỉ là mở rộng sử dụng xăng E10 mà phải hướng tới xây dựng hệ sinh thái hoàn chỉnh với sự tham gia của tất cả các chủ thể liên quan. Trong đó, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thông qua việc hoàn thiện thể chế, xây dựng cơ chế, chính sách và duy trì lộ trình phát triển ổn định; doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm trong đầu tư, đổi mới công nghệ, phát triển thị trường và hạ tầng phục vụ sản xuất, phân phối nhiên liệu sinh học.
Ông Thành cho rằng, việc Bộ Công Thương ban hành Thông tư số 50/2025/TT-BCT quy định lộ trình áp dụng tỷ lệ phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống đã tạo cơ sở để doanh nghiệp chủ động xây dựng kế hoạch đầu tư, sản xuất và kinh doanh. Chính sách ổn định cũng là điều kiện quan trọng để thu hút nguồn lực xã hội tham gia phát triển ngành nhiên liệu sinh học.
Cùng với đó, doanh nghiệp cần tiếp tục đầu tư đồng bộ từ các nhà máy sản xuất ethanol, cơ sở pha chế phối trộn đến hệ thống kho bãi, logistics và hạ tầng phân phối. Quy mô đầu tư sẽ phụ thuộc vào hiệu quả kinh tế và nhu cầu thực tế của thị trường. Khi thị trường phát triển ổn định, doanh nghiệp sẽ có thêm động lực mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Để bảo đảm nguồn cung trong dài hạn, ông Thành nhấn mạnh Việt Nam cần kết hợp hài hòa giữa sản xuất trong nước và nhập khẩu, đồng thời từng bước nâng tỷ lệ ethanol sản xuất trong nước lên 50 - 70% thông qua khôi phục các nhà máy hiện có, đầu tư mở rộng công suất và xây dựng các cơ sở sản xuất mới.
Cùng với đó, đại diện Bộ Công Thương nhấn mạnh, cần phát triển các vùng nguyên liệu ổn định gắn với đổi mới công nghệ. Bên cạnh việc tận dụng các nguyên liệu truyền thống như sắn và ngô, ngành nhiên liệu sinh học cần từng bước phát triển ethanol thế hệ thứ hai và thứ ba từ phụ phẩm nông nghiệp như bã mía, rơm rạ hoặc vi tảo. Đây là hướng đi giúp đa dạng hóa nguồn nguyên liệu, giảm chi phí sản xuất và nâng cao sức cạnh tranh của ethanol Việt Nam trong dài hạn.
Đồng tình với quan điểm cần xây dựng hệ sinh thái phát triển nhiên liệu sinh học, ông Đỗ Văn Tuấn cho rằng, điều kiện tiên quyết là Nhà nước phải xây dựng được hệ thống chính sách ổn định, có tính dự báo để tạo niềm tin cho doanh nghiệp đầu tư dài hạn. Chính sách cần đồng bộ các cơ chế về thuế, tài chính, đầu tư và phát triển vùng nguyên liệu. Khi có chính sách rõ ràng và nhất quán, các nhà máy ethanol đã đầu tư sẽ có cơ hội phục hồi, doanh nghiệp chủ động mở rộng sản xuất, thu mua nguyên liệu và đầu tư công nghệ mới.
Đối với vùng nguyên liệu, ông Tuấn lưu ý cần hình thành mối liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp, địa phương và người nông dân. Các nhà máy ethanol cần xây dựng chuỗi liên kết ổn định với vùng trồng tương tự mô hình của ngành mía đường, vừa bảo đảm đầu ra cho nông sản, vừa tạo nguồn nguyên liệu bền vững phục vụ sản xuất.
Từ góc độ cơ quan quản lý tài chính, Trưởng phòng Thuế Xuất nhập khẩu, Cục Quản lý, giám sát chính sách thuế, phí và lệ phí, Bộ Tài chính Trần Thị Bích Ngọc cho biết, để tạo thuận lợi hơn cho việc phát triển thị trường, Bộ Tài chính dự kiến trình Chính phủ sửa đổi Nghị định số 67/2011/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế bảo vệ môi trường. Theo đó sẽ quy định rõ mức thuế đối với xăng sinh học dựa trên tỷ lệ phối trộn ethanol thực tế, phù hợp với các tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia.

