Xác định rõ bản chất và giới hạn của quyền sử dụng khu vực biển
Thảo luận về dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), các ĐBQH đề nghị làm rõ bản chất, phạm vi và giới hạn của quyền sử dụng khu vực biển, bảo đảm các giao dịch chuyển nhượng, thế chấp, góp vốn, cho thuê lại không tạo ra quyền rộng hơn, dài hơn hoặc khác mục đích so với quyền Nhà nước đã xác lập.
.jpg)
Chiều 28/9, Hội nghị ĐBQH hoạt động chuyên trách lần thứ Nhất thảo luận về dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên.
Ngăn tình trạng giữ quyền sử dụng biển để chuyển nhượng
Một trong những nội dung nhiều ĐBQH quan tâm là quy định về “quyền sử dụng khu vực biển”, đặc biệt là phạm vi quyền và các giao dịch chuyển nhượng, cho thuê lại, góp vốn, thế chấp, thừa kế.

ĐBQH Nguyễn Thị Sửu (TP. Huế) đề nghị làm rõ bản chất pháp lý của quyền sử dụng khu vực biển trước khi quy định các quyền liên quan.
Theo đại biểu, Điều 24 dự thảo xác lập cơ chế Nhà nước giao, cho thuê hoặc xác nhận đăng ký sử dụng khu vực biển, đồng thời quy định một số quyền của người sử dụng. Trong khi đó, khoản 6 Điều 19 nêu rõ việc giao, cho thuê, đăng ký sử dụng khu vực biển không làm phát sinh quyền sở hữu đối với biển, đáy biển, lòng đất dưới đáy biển, khối nước và mặt nước biển. Khoản 22 Điều 3 cũng xác định giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển là chứng thư pháp lý xác nhận quyền sử dụng, không phải chứng thư sở hữu vùng biển.
Đại biểu Nguyễn Thị Sửu cho rằng, nguyên tắc này là cần thiết nhưng chưa đủ. Khi pháp luật cho phép quyền sử dụng khu vực biển được chuyển giao hoặc tham gia các giao dịch có giá trị kinh tế, Luật cần xác định rõ bản chất, phạm vi của quyền này, mức độ được chuyển giao và những trường hợp Nhà nước có thể thu hồi.

Do đó, đại biểu đề nghị bổ sung ngay tại Điều 24 một khoản quy định về bản chất pháp lý của quyền sử dụng khu vực biển, theo hướng: “Quyền sử dụng khu vực biển là quyền do Nhà nước xác lập, ghi nhận cho tổ chức, cá nhân trong phạm vi, mục đích, thời hạn và điều kiện sử dụng khu vực biển được xác định trong quyết định giao, hợp đồng cho thuê hoặc văn bản xác nhận đăng ký sử dụng khu vực biển; không phải là quyền sở hữu đối với khu vực biển và không làm thay đổi chế độ pháp lý của vùng biển theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên”.

Trên cơ sở đó, các quy định về chuyển nhượng, cho thuê lại, góp vốn, thế chấp và thừa kế quyền sử dụng khu vực biển cần được rà soát đồng bộ. Theo đại biểu, phải bảo đảm nguyên tắc không giao dịch dân sự, thương mại nào có thể tạo ra quyền sử dụng biển rộng hơn, dài hơn hoặc khác mục đích so với quyền Nhà nước đã xác lập.
“Đây không phải vấn đề câu chữ đơn thuần, mà là điểm neo pháp lý của cả chế định sử dụng khu vực biển. Nếu neo không chắc ở Điều 24 thì các quyền giao dịch phía sau rất dễ phát sinh cách hiểu khác nhau”, đại biểu Nguyễn Thị Sửu nhấn mạnh.

Cùng quan tâm đến quyền sử dụng khu vực biển, ĐBQH Trần Văn Lâm (Bắc Ninh) cho rằng, quyền này không nên được hiểu gần như quyền sở hữu, cũng không nên sao chép một cách cơ học các quyền của người sử dụng đất.
Theo đại biểu, Luật cần phân định rõ quyền nào được chuyển nhượng, thế chấp, góp vốn, cho thuê lại; trường hợp nào phải được Nhà nước chấp thuận và khu vực nào cần hạn chế giao dịch vì yêu cầu quốc phòng, an ninh, môi trường hoặc lợi ích chiến lược.
Đại biểu Trần Văn Lâm cũng lưu ý cần tránh tình trạng tổ chức, cá nhân được giao khu vực biển nhưng không đưa vào khai thác, sử dụng mà giữ quyền chờ tăng giá để chuyển nhượng. Người được giao khu vực biển phải có năng lực, dự án cụ thể, tiến độ thực hiện và sử dụng đúng mục đích
Quy định trách nhiệm của UBND xã khi xảy ra ô nhiễm biển
Quan tâm đến trách nhiệm kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đảo tại Điều 55 - 60, ĐBQH Nguyễn Minh Tâm (Quảng Trị) cho rằng, dự thảo đã phân công trách nhiệm cho các cơ quan, trong đó có UBND cấp tỉnh, nhưng cần làm rõ hơn vai trò của UBND cấp xã có biển.

"Nếu Điều 6 dự thảo Luật đã giao nhiệm vụ quản lý nhà nước cho UBND cấp xã thì trong các quy định về bảo vệ môi trường biển cũng phải xác định rõ vai trò của UBND cấp xã có biển, bởi đây là cấp gần dân, gần địa bàn và có khả năng phát hiện sự việc đầu tiên". Nêu vấn đề này, đại biểu Nguyễn Minh Tâm lưu ý: nếu trách nhiệm không rõ, có thể xảy ra tình trạng phát hiện sự việc nhưng không biết xử lý đến đâu, báo cáo cơ quan nào và trong thời hạn bao lâu.
Đại biểu Nguyễn Minh Tâm đề nghị quy định rõ: UBND cấp xã có biển chịu trách nhiệm theo dõi, phát hiện, tiếp nhận thông tin và xử lý bước đầu các vụ việc ô nhiễm môi trường biển trên địa bàn. Trường hợp vượt quá thẩm quyền hoặc khả năng xử lý thì phải báo cáo ngay UBND cấp tỉnh để tổ chức ứng phó. UBND cấp tỉnh phải có trách nhiệm tiếp nhận, chỉ đạo, huy động lực lượng, phương tiện và nguồn lực để xử lý đối với những sự cố vượt quá khả năng của cấp xã.
Đại biểu Nguyễn Minh Tâm cũng đề nghị Ban soạn thảo tiếp tục rà soát Điều 9 và các quy định về kiểm soát môi trường biển, sự cố môi trường biển theo hướng trên, để quy định của Luật không chỉ đúng về nguyên tắc mà địa phương có thể căn cứ vào đó để làm, người dân có thể căn cứ vào đó để thực hiện và khi có vi phạm thì cơ quan nhà nước có căn cứ để xử lý.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường ĐẶNG NGỌC ĐIỆP: Bảo đảm chất lượng, tính khả thi của dự thảo Luật

Làm rõ một số vấn đề ĐBQH nêu, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp cho biết, dự án Luật hướng tới đổi mới phương thức quản trị, phân bổ, khai thác và sử dụng không gian biển quốc gia; phát huy hiệu quả tổng hợp của các ngành kinh tế biển gắn với bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền và lợi ích quốc gia.
Theo Thứ trưởng, các quy định phải vừa đáp ứng yêu cầu quản lý, vừa phân định rõ trách nhiệm và thuận lợi khi thực hiện.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ tiếp thu các ý kiến tại Hội nghị, phối hợp với Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường cùng các cơ quan liên quan để hoàn thiện dự thảo; bảo đảm đồng bộ với các dự án luật liên quan, hoàn thiện quy định chuyển tiếp và điều kiện thi hành.
Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp khẳng định Bộ chịu trách nhiệm về chất lượng, tính khả thi của dự thảo và sẽ khẩn trương hoàn thiện hồ sơ, báo cáo Chính phủ để trình Quốc hội theo tiến độ.

