VIỆT SỬ GIAI THOẠI: Hoàng Giáp Bùi Công Phụ xóa mối ngờ vực của các quan
Bùi Công Phụ người làng Bình Dân, huyện Đông Yên (nay là làng Bình Dân, xã Tân Dân, huyện Khoái Châu, Hưng Yên) đỗ Hoàng Giáp khoa Bính Thìn (1676), làm quan được phong tới chức Đô Cấp Sự Trung, tước Nam. Sinh thời, ông nổi tiếng là người thẳng thắn, không thiên vị ai, nhưng đồng thời cũng là người biết giữ hòa khí.
Năm 1683, triều đình quyết định cử một phái bộ sứ giả sang nhà Mãn Thanh (Trung Quốc), dâng tờ biểu văn, bày tỏ thái độ trước việc bọn thổ phỉ phương Bắc thường tràn sang cướp phá nước ta. Đây là một văn kiện ngoại giao thuộc hàng rất khó viết, bởi vậy, triều đình liền tổ chức thi viết thử. Kết quả, có ba người trúng giải, gồm Bảng Nhãn Đào Công Chính, người làng Hội Am, huyện Vĩnh Lại (nay là làng Hội Am, xã Cao Minh, Vĩnh Bảo, Hải Phòng) và hai người khác cùng quê ở làng Mộ Trạch, huyện Đường An (làng này nay thuộc huyện Bình Giang, Hải Dương) là Tiến Sĩ Vũ Duy Hải và người em họ của ông là Vũ Công Trực.
Có biểu văn rồi, triều đình lại tổ chức thi viết chữ biểu văn sao cho thật đẹp, cố tỏ cho thiên triều biết, kẻ sĩ nước ta cũng văn hay chữ tốt không kém gì ai. Kết quả, học trò của Tiến Sĩ Vũ Duy Hải là Vũ Thường Tồn, cũng là người Mộ Trạch chiếm hạng ưu. Những kẻ hẹp hòi trong triều thấy vậy thì ghen tỵ, liền tìm đến gặp quan giữ chức Đô Cấp Sự Trung là Hoàng Giáp Bùi Công Phụ, nói nửa đùa nửa thật rằng:
- Nay có ba người văn hay chữ tốt thì hai người quê ở Mộ Trạch, tuyển có một người chữ tốt thì rốt cuộc, kẻ trúng giải cũng là người Mộ Trạch. Giá mà có mở kỳ thi cướp giật, ắt là người Mộ Trạch cũng sẽ chiếm giải nốt. Người Bình Dân (ám chỉ Bùi Công Phụ, vì ông người làng Bình Dân) làm sao mà trở tay kịp?
Bọn hẹp hòi đó quả là đáo để. Xét về thứ bậc đỗ đạt thì Bùi Công Phụ cao hơn Vũ Duy Hải, lại càng cao hơn hẳn Vũ Công Trực, đã thế, ông lại đang giữ chức Đô Cấp Sự Trung là chức có quyền hạch tội bá quan, nếu ông mà bị kích động rồi không giữ được sự sáng suốt và khách quan thì sự thể sẽ thật khó mà lường được. Nhưng, Hoàng Giáp Bùi Công Phụ đã xử sự như thế nào? Sách CÔNG DƯ TIỆP KÝ (quyển 1) chép rằng:
“Về phần mình, khi thấy đồng liêu chế giễu như vậy, Bùi Công Phụ vừa hổ thẹn thay cho họ lại vừa giận họ lòng dạ hẹp hòi. Ông bèn bí mật tuyển mộ những người có biệt tài lấy trộm để cho sung vào đội lính hầu của mình. Một hôm tới phiên chầu, ông đem họ theo rồi sai đi lấy trộm hết những hòm mũ áo của các quan giấu vào một chỗ kín(1). Tan buổi chầu, bá quan thấy mất hết các hòm đựng mũ áo liền nhao nhao hỏi nhau mà chẳng rõ duyên cớ. Mãi một lúc sau, họ mới nhớ lại chuyện nói giễu hôm nào, bèn đến chỗ Bùi Công Phụ, nói:
- Việc này, nếu không do bác Bình Dân thì thử hỏi còn có ai vào đấy nữa. Hôm trước, chúng tôi chỉ đùa bỡn, xin bác bỏ qua cho. Bác cho xin hòm áo mũ để ta cùng về luôn thể.
Bùi Công Phụ thản nhiên như không hề biết. Bá quan gặng hỏi thì ông vờ đáp:
- Việc ấy, tất nhiên cũng do người Mộ Trạch chớ bọn Bình Dân chúng tôi thì sao mà làm nổi.
Lúc ấy, mọi người mới rõ chuyện, cùng cả cười rồi ra về”.
Lời bàn: Tờ biểu văn chứa những nội dung tế nhị như trên kể cũng khó viết, nhưng khó với ai chớ lẽ đâu lại khó với cả một triều đình gồm toàn các bậc đại khoa? Phải tổ chức một cuộc thi để chọn biểu văn, đó là sự khốn khổ. Thi xong, kết quả rõ ràng rồi mà không tin vào kết quả, đó là sự đại khốn khổ. Bởi không tin nên ngờ vực lẫn nhau, thì… trăm lạy các quan, hậu thế ắt phải thi mới chọn được từ đủ tầm cỡ tệ hại để diễn tả việc này.
Hoàng Giáp Bùi Công Phụ xóa mối ngờ vực theo cách riêng của ông, rằng hay thì chẳng phải là hay, nhưng hiệu nghiệm là điều ai cũng thấy. Thành công trước hết có lẽ không phải do cách ông làm mà là ở cách ông nghĩ. Phàm là đấng trượng phu, chớ bao giờ để lời khích bác tầm thường đọng lại ở tai mình.
May mắn thay, cuối cùng, các quan đã cả cười rồi giải tán, hòa khí nhờ đó mà lại được coi trọng. Hậu thế dám đoan chắc rằng, có bao nhiêu người nghe được tiếng cả cười này là lập tức có bấy nhiêu người sẽ lễ phép khoanh tay, vái tạ mà thưa rằng: Muôn đội ơn quan! Muôn đội ơn quan!
_____________________________
(1) Xưa, hễ vào chầu thì các quan phải mặc phẩm phục của mình. Trong cung có một nơi riêng để thường phục lại, bởi thế mới có chuyện lấy trộm như trên.

