Xã hội

Văn minh sinh thái và thước đo mới của phát triển

Trịnh Lê Nguyên, Giám đốc Trung tâm Con người và Thiên nhiên 07/06/2026 08:16

Khái niệm “văn minh sinh thái” được đặt ra trong bài viết “Vì một nền văn minh sinh thái, một Việt Nam xanh và một đại dương hoà bình, bền vững” của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhân Ngày Môi trường Thế giới 5/6 và trước thềm Ngày Đại dương Thế giới 8/6 gợi mở tầm nhìn phát triển rộng hơn.

Theo đó, phát triển phải được thiết kế ngay từ đầu trong giới hạn sinh thái; thiên nhiên phải được coi là nền tảng của đời sống, kinh tế, sức khỏe, an ninh và tương lai của các thế hệ sau. trong đó thiên nhiên không chỉ là đối tượng bảo vệ mà là nền tảng của an ninh, kinh tế, sức khỏe và tương lai quốc gia.

Khái niệm
Khái niệm "văn minh sinh thái" gợi mở một tầm nhìn rộng hơn; theo đó, phát triển phải được thiết kế ngay từ đầu trong giới hạn sinh thái. Ảnh: Tá Chuyên

Hình thành tư duy phát triển mới

Trong thông điệp này môi trường không còn được nhìn nhận như một lĩnh vực riêng, đứng sau phát triển để xử lý các hệ quả phát sinh. Môi trường, khí hậu, đại dương và đa dạng sinh học được đặt vào trung tâm của phát triển, an ninh, hòa bình, công bằng, đạo đức và sự trường tồn của quốc gia dân tộc.

Đây là một thay đổi quan trọng về tư duy. Trong nhiều năm qua, cách tiếp cận phổ biến đối với bảo vệ môi trường vẫn thiên về xử lý các vấn đề phát sinh như ô nhiễm, rác thải, suy thoái môi trường hay trồng cây, phục hồi sau tác động. Những hành động đó vẫn cần thiết, nhưng nếu chỉ dừng ở đó, môi trường vẫn bị nhìn như “vế sau” của phát triển: phát triển trước, xử lý hậu quả sau.

Khái niệm "văn minh sinh thái" gợi mở một tầm nhìn rộng hơn. Theo đó, phát triển phải được thiết kế ngay từ đầu trong giới hạn sinh thái; thiên nhiên phải được coi là nền tảng của đời sống, kinh tế, sức khỏe, an ninh và tương lai của các thế hệ sau.

Văn minh sinh thái, nói một cách dễ hiểu, là trình độ phát triển trong đó con người không còn xem thiên nhiên chỉ là kho tài nguyên để khai thác, cũng không xem môi trường là nơi tiếp nhận chất thải của tăng trưởng.

Trong một nền văn minh sinh thái, rừng, sông, biển, đất ngập nước, đa dạng sinh học, khí hậu ổn định và môi trường sống lành mạnh được coi là điều kiện căn bản của phát triển. Một quốc gia không chỉ được đo bằng tốc độ tăng trưởng GDP, quy mô hạ tầng hay sản lượng công nghiệp, mà còn bằng chất lượng không khí, độ an toàn nguồn nước, khả năng chống chịu thiên tai, sức khỏe hệ sinh thái và quyền được sống trong môi trường lành mạnh của người dân.

Chính vì vậy, văn minh sinh thái đòi hỏi một thước đo mới của phát triển. Một địa phương có thể tăng trưởng nhanh, thu hút nhiều dự án, mở rộng đô thị, phát triển hạ tầng và công nghiệp, nhưng nếu phải đánh đổi bằng ô nhiễm nguồn nước, mất rừng tự nhiên, suy thoái đất, sạt lở bờ sông, ngập úng đô thị, suy giảm sinh kế nông dân và ngư dân, thì cái giá phát triển đó sẽ sớm quay trở lại thành gánh nặng xã hội. Một nền kinh tế có thể đạt kết quả ngắn hạn ấn tượng, nhưng nếu nền tảng sinh thái bị bào mòn, chi phí khắc phục thiên tai, y tế, ô nhiễm và mất sinh kế ngày càng lớn, thì đó không thể là một mô hình phát triển bền vững.

Hệ sinh thái tự nhiên là hạ tầng chiến lược quốc gia

Bài viết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng nhấn mạnh rằng bảo vệ môi trường cần được nhìn nhận là một nội dung cốt lõi của an ninh quốc gia và an ninh con người.

Đây là cách tiếp cận cần được cụ thể hóa mạnh mẽ hơn trong hoạch định chính sách. Trong thế kỷ XXI, an ninh quốc gia không chỉ là biên giới, quốc phòng, năng lượng hay lương thực. An ninh quốc gia còn bao gồm an ninh sinh thái, an ninh nguồn nước, an ninh khí hậu, an ninh biển, an ninh sức khỏe cộng đồng và khả năng chống chịu của các cộng đồng trước thiên tai, dịch bệnh, khủng hoảng môi trường.

Những rủi ro này không còn là cảnh báo xa xôi. Việt Nam có hơn 3.260 km bờ biển, hai đồng bằng lớn, hệ thống sông ngòi dày đặc, nhiều đô thị ven biển và hàng triệu người dân sống dựa vào tài nguyên rừng, biển, sông, hồ, đất ngập nước. Vì vậy, nước biển dâng, bão mạnh hơn, mưa cực đoan, hạn hán, xâm nhập mặn, sạt lở, suy giảm nguồn lợi thủy sản và ô nhiễm môi trường không chỉ là vấn đề sinh thái. Đó là vấn đề sinh kế, an sinh, ổn định xã hội và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Tiền Hải. Ảnh: Nam Hồng/LĐO
Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Tiền Hải. Ảnh: Nam Hồng/LĐO

Ngân hàng Thế giới từng cảnh báo chi phí của việc không hành động trước biến đổi khí hậu ở Việt Nam là rất lớn. Các mô hình kinh tế vĩ mô cho thấy tác động khí hậu có thể làm giảm sản lượng quốc gia so với kịch bản cơ sở trong các thập kỷ tới nếu không có các biện pháp thích ứng phù hợp.

Thực tế trong nước cũng cho thấy mức độ tổn thất ngày càng nghiêm trọng do thiên tai và các hiện tượng thời tiết cực đoan.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, năm 2025, thiên tai đã làm 484 người chết và mất tích, 811 người bị thương, tổng thiệt hại ước tính trên 104.733 tỷ đồng. Đó không chỉ nói về thời tiết cực đoan. Chúng phản ánh mức độ dễ bị tổn thương của hệ thống phát triển hiện tại với rừng đầu nguồn suy giảm, hành lang thoát lũ bị thu hẹp, đô thị bê tông hóa quá nhanh, vùng trũng thấp thiếu không gian chứa nước, cộng đồng ven biển mất dần các lá chắn tự nhiên như rừng ngập mặn và bãi triều.

Từ góc nhìn đó, đầu tư cho thiên nhiên chính là đầu tư cho tương lai. Nếu đường sá, cảng biển, sân bay, điện lưới, khu công nghiệp là hạ tầng kinh tế, thì rừng đầu nguồn, rừng ngập mặn, đất ngập nước, sông hồ, rạn san hô, thảm cỏ biển và các hành lang sinh thái cũng là hạ tầng chiến lược của quốc gia. Đây không chỉ là những không gian mang giá trị cảnh quan hay tinh thần, mà còn có chức năng thiết yếu: giữ nước, giảm lũ, chắn sóng, hạn chế xói lở, lưu trữ carbon, duy trì nguồn lợi thủy sản, bảo vệ đất, điều hòa khí hậu địa phương và nâng đỡ sinh kế của hàng triệu người dân.

Vì vậy, phục hồi các hệ sinh thái tự nhiên và xây dựng năng lực thích ứng khí hậu cần được coi là góp phần xây dựng hạ tầng chiến lược của quốc gia.

Nếu đường sá, cảng biển, sân bay, điện lưới, khu công nghiệp là hạ tầng kinh tế, thì rừng đầu nguồn, rừng ngập mặn, đất ngập nước, sông hồ, rạn san hô, thảm cỏ biển và các hành lang sinh thái cũng là hạ tầng chiến lược của quốc gia.

Thước đo văn minh sinh thái cần vượt ra ngoài những chỉ tiêu bề mặt...

Hiện, Việt Nam có gần 15 triệu ha rừng, trong đó hơn 10,07 triệu ha là rừng tự nhiên và hơn 4,89 triệu ha là rừng trồng; tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc đạt 42,03%. Đây là thành tựu lớn nếu nhìn từ góc độ phục hồi độ che phủ rừng trong nhiều thập kỷ qua.

Tuy nhiên, con số che phủ rừng không nói hết chất lượng sinh thái của rừng. Một hecta rừng tự nhiên giàu đa dạng sinh học không thể được nhìn nhận giống một hecta rừng trồng đơn loài. Một cánh rừng còn cây nhưng vắng thú lớn, ít chim, thiếu tầng tán, đứt gãy khả năng tái sinh và bị bao vây bởi hạ tầng chia cắt không thể được coi là một hệ sinh thái khỏe mạnh.

Điều này cho thấy quy mô rất lớn của nền tảng sinh thái mà quốc gia cần bảo vệ. Nếu hệ thống này được quản lý tốt, nó sẽ là tấm lá chắn sinh thái cho phát triển. Nếu bị phân tán, suy yếu hoặc thiếu đầu tư, các rủi ro sinh thái sẽ không dừng lại trong ranh giới khu bảo tồn, mà lan sang nguồn nước, nông nghiệp, thủy sản, du lịch, hạ tầng và đời sống dân cư.

Đây là lý do thước đo văn minh sinh thái cần vượt ra ngoài những chỉ tiêu bề mặt. Việt Nam không chỉ cần giữ ổn định tỷ lệ che phủ rừng, mà còn phải bảo vệ rừng tự nhiên còn lại, phục hồi chất lượng hệ sinh thái, kết nối sinh cảnh, giảm săn bắt, kiểm soát bẫy, khôi phục các loài bản địa và bảo vệ chức năng sinh thái của rừng.

cat-tien.jpg
Bàu Sấu Vườn Quốc gia Cát Tiên là nơi lưu giữ nhiều quần thể động vật hoang dã quý hiếm. Ảnh: Báo Lâm Đồng

Trong bức tranh đó, hệ thống vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu bảo tồn biển, rừng đặc dụng, rừng phòng hộ đầu nguồn, đất ngập nước quan trọng và các sinh cảnh của loài nguy cấp giữ vai trò đặc biệt. Đây không chỉ là các đơn vị quản lý hành chính về rừng hay các khu vực được khoanh vùng bảo vệ, mà là phần lõi còn lại của vốn tự nhiên quốc gia.

Các khu vực này lưu giữ đa dạng sinh học, nguồn gen, nguồn nước, các quá trình sinh thái và nhiều giá trị khoa học, văn hóa và cảnh quan có ý nghĩa lâu dài. Vì vậy, cần mạnh dạn đặt vấn đề tái cấu trúc quản trị hệ thống bảo tồn thiên nhiên theo hướng quốc gia hơn, thống nhất hơn và dài hạn hơn.

Từ cách tiếp cận đó, đặt ra yêu cầu cần xem các vườn quốc gia và khu bảo tồn là tài sản sinh thái quốc gia, đồng thời nghiên cứu mô hình một đầu mối Trung ương quản lý trực tiếp các mục tiêu, tiêu chuẩn, tài chính, nhân lực và cơ chế giám sát của hệ thống. Cách tiếp cận này không có nghĩa là tách địa phương ra khỏi công tác bảo tồn.

Ngược lại, địa phương vẫn giữ vai trò rất quan trọng trong vùng đệm, sinh kế cộng đồng, an ninh trật tự, phòng cháy chữa cháy, du lịch sinh thái và phối hợp xử lý vi phạm. Nhưng các quyết định cốt lõi liên quan đến mục tiêu bảo tồn, phân khu chức năng, chuyển đổi sử dụng đất, đầu tư hạ tầng, khai thác dịch vụ và đánh giá hiệu quả quản lý cần được đặt trong một chuẩn mực quốc gia thống nhất.

chim-hong.jpg
Chim hồng hoàng quý hiếm thuộc nhóm nguy cấp được ghi nhận và bảo vệ nghiêm ngặt tại Vườn Quốc gia Cát Tiên. Ảnh: Ban Quản lý Vườn Quốc gia Cát Tiên

... và phải được đo bằng năng lực thực thi

Thực tế cho thấy khoảng cách lớn nhất hiện nay không nằm ở việc thiếu chính sách, mà nằm ở năng lực thực thi. Việt Nam đã có đầy đủ luật pháp, chiến lược và cam kết quốc tế về bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học và ứng phó biến đổi khí hậu.

Vấn đề nằm ở chỗ các nguyên tắc xanh có thực sự đi vào quyết định phát triển cụ thể hay không. Quy hoạch có đặt giới hạn sinh thái lên trước hay không? Đánh giá tác động môi trường có đủ độc lập và đủ sức ngăn chặn các rủi ro dài hạn hay không? Ngân sách cho bảo tồn thiên nhiên có tương xứng với vai trò của các hệ sinh thái hay không? Người gây ô nhiễm có thực sự phải trả chi phí hay không? Người bảo vệ thiên nhiên, đặc biệt là cộng đồng địa phương, có được hưởng lợi xứng đáng hay không?

Văn minh sinh thái vì thế phải được đo bằng năng lực thực thi. Nó không chỉ nằm trong khẩu hiệu xanh, mà trong cách phân bổ ngân sách, cách phê duyệt dự án, cách kiểm soát chuyển đổi đất rừng, cách quản lý lưu vực sông, cách bảo vệ biển, cách phục hồi đất ngập nước, cách công khai dữ liệu môi trường và cách xử lý trách nhiệm khi xảy ra suy thoái.

Đó cũng chính là nền tảng để biến văn minh sinh thái thành thực tế. Một hệ thống dữ liệu quốc gia về rừng, đa dạng sinh học, nguồn nước, phát thải, chất lượng không khí, rác thải, biển, sạt lở, xâm nhập mặn và tuân thủ môi trường của doanh nghiệp cần được xây dựng theo hướng công khai, kết nối và có thể kiểm chứng. Công nghệ vệ tinh, cảm biến môi trường, trí tuệ nhân tạo, bản đồ số và nền tảng phản ánh của người dân có thể giúp tăng cường giám sát. Nhưng công nghệ chỉ có ý nghĩa khi đi kèm với trách nhiệm giải trình, chế tài đủ mạnh và không gian tham gia thực chất của cộng đồng, báo chí, nhà khoa học và các tổ chức xã hội.

Bài viết của lãnh đạo cao nhất của đất nước nhân Ngày Môi trường Thế giới có thể được xem như một tuyên ngôn rằng phát triển trong kỷ nguyên mới phải là phát triển biết tôn trọng giới hạn sinh thái. Khi thiên nhiên được đặt ở trung tâm của quản trị quốc gia, bảo vệ môi trường không còn là phần việc bên lề, mà trở thành một điều kiện của thịnh vượng, an ninh và trường tồn dân tộc.

Trách nhiệm của chúng ta hôm nay không chỉ là làm cho đất nước xanh hơn trong hiện tại, mà là để lại cho 100 năm sau một Việt Nam còn rừng, còn sông, còn biển, còn các loài hoang dã và còn khả năng nuôi dưỡng một tương lai bền vững.

    Nổi bật
        Mới nhất
        Văn minh sinh thái và thước đo mới của phát triển
        • Mặc định