Ứng dụng AI trong quản lý hải quan: Cần cơ chế kiểm soát để bảo vệ quyền doanh nghiệp
Thảo luận tại Tổ 15 (gồm Đoàn ĐBQH Phú Thọ, Đà Nẵng), các ĐBQH cho rằng, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan, đã có bước tiến đột phá khi cho phép áp dụng AI và Big Data để tự động hóa việc phân loại mức độ tuân thủ và phân luồng kiểm tra hải quan, song cần bổ sung cơ chế kiểm soát chặt chẽ nhằm bảo đảm minh bạch, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khai hải quan.
Chiều 3/8, Quốc hội thảo luận tại Tổ về: dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan; dự án Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục IV về danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật Đầu tư và dự án Nghị quyết của Quốc hội quy định cơ chế, chính sách đặc thù để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện các dự án, công trình phục vụ Hội nghị cấp cao APEC 2027 tại Đặc khu Phú Quốc, tỉnh An Giang. Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú dự phiên thảo luận tại Tổ 15.
.jpg)
Đề xuất bổ sung cơ chế kiểm soát AI, bảo vệ quyền của người khai hải quan
Cho ý kiến về dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan, ĐBQH Vương Quốc Thắng (Đà Nẵng) đánh giá cao sự chuẩn bị công phu của cơ quan chủ trì soạn thảo và cơ bản tán thành với Tờ trình của Chính phủ, Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp đối với Dự án Luật. Theo đại biểu, lần sửa đổi này đã thể hiện quyết tâm rất lớn trong việc hiện đại hóa công tác quản lý Nhà nước, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Liên quan đến cơ chế quản lý rủi ro, phân loại tuân thủ bằng Trí tuệ nhân tạo (AI) và Dữ liệu lớn (sửa đổi, bổ sung Điều 17 và bổ sung Điều 17a của Luật), ĐBQH Vương Quốc Thắng cho rằng Dự thảo Luật đã có bước tiến đột phá khi cho phép áp dụng AI và Big Data để tự động hóa việc phân loại mức độ tuân thủ và phân luồng kiểm tra hải quan. Đây là xu hướng tất yếu trong bối cảnh hiện tại và tương lai. Tuy nhiên, như Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp và Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường nhận định, dự thảo Luật hiện đang thiếu vắng hoàn toàn các nguyên tắc pháp lý về quản trị AI và bảo vệ quyền lợi của người khai hải quan.
.jpg)
Theo Kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, việc ứng dụng công nghệ mới không được làm hạn chế quyền giải trình, khiếu nại của tổ chức, cá nhân. Mặc dù vậy, ý kiến này chưa được thể hiện đầy đủ, rõ nét trong dự thảo Luật trình Quốc hội.
Theo đại biểu Vương Quốc Thắng, AI vận hành trên thuật toán và dữ liệu đầu vào; nếu dữ liệu sai lệch hoặc thuật toán gặp lỗi "hộp đen" (black box), hệ thống hoàn toàn có thể hạ mức độ tuân thủ của một doanh nghiệp uy tín, đẩy họ từ luồng Xanh sang luồng Đỏ, gây thiệt hại nghiêm trọng về chi phí lưu kho bãi và thời gian thông quan, đặc biệt đối với các mặt hàng là thực phẩm cần có thời gian thông quan nhanh sẽ dễ bị hỏng hoặc tác động dẫn đến giảm chất lượng do thời gian thông quan chậm.
Vì vậy, đại biểu kiến nghị xem xét bổ sung vào Điều 17a hai nguyên tắc. Thứ nhất, đề nghị nghiên cứu, bổ sung quy định bắt buộc phải có cơ chế kiểm thử, lưu vết thuật toán và không được dùng quyết định hoàn toàn tự động của AI để ban hành các quyết định xử lý vi phạm hành chính hoặc áp dụng biện pháp bất lợi cho doanh nghiệp mà không có sự kiểm tra, xác nhận của cán bộ hải quan. Thứ hai, đề nghị quy định rõ trách nhiệm của cơ quan Hải quan trong việc xác minh tính chính xác của dữ liệu, đồng thời thiết lập cơ chế đối thoại, giải trình trực tuyến cho phép người khai hải quan bổ sung thông tin, chứng minh sự tuân thủ trước khi hệ thống chính thức hạ bậc đánh giá.
Về căn cứ, thẩm quyền và giải quyết tranh chấp trong Kiểm định hải quan (bổ sung tại Điều 16b của Luật), đại biểu Vương Quốc Thắng đề nghị cần luật hóa các căn cứ cụ thể xác định hàng hóa bắt buộc phải kiểm định; quy định rõ thời hạn và cơ chế bồi hoàn chi phí phát sinh cho doanh nghiệp trong trường hợp cơ quan Hải quan kiểm định sai hoặc chậm trễ kết quả kiểm định, đúng như tinh thần Kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
ĐBQH Trần Mạnh Huy (Đà Nẵng) cũng tán thành sự cần thiết sửa đổi Luật Hải quan, nhấn mạnh Dự thảo đã xử lý nhiều bất cập kéo dài, đồng thời đặt nền móng cho hải quan số, quản lý rủi ro, quản lý tuân thủ và thương mại điện tử xuyên biên giới.
.jpg)
Đại biểu Trần Mạnh Huy đề nghị cần rà soát ranh giới giữa Luật và văn bản dưới luật. Những yếu tố làm phát sinh quyền, nghĩa vụ, điều kiện áp dụng biện pháp bất lợi, thời hạn, hậu quả pháp lý và quyền khiếu nại phải nằm trong Luật.
Bên cạnh đó, Điều 16a về thương mại điện tử cần rõ hơn, xác định chủ quản nền tảng là ai; trách nhiệm nền tảng trong nước và xuyên biên giới; dữ liệu bắt buộc; thời điểm cung cấp; thời hạn lưu giữ; và đầu mối chịu trách nhiệm tại Việt Nam phải được xác định. Trách nhiệm cần đi theo mức độ kiểm soát thực tế đối với giao dịch, thanh toán, dữ liệu và vận chuyển.
Đối với AI và quản lý rủi ro, đại biểu đề nghị luật hóa 4 quyền tối thiểu: quyền biết mức độ tuân thủ; quyền sửa dữ liệu sai; quyền cung cấp bổ sung và yêu cầu đánh giá lại; quyền được một người có thẩm quyền xem xét quyết định bất lợi. AI là công cụ hỗ trợ, không phải chủ thể chịu trách nhiệm pháp lý.
ĐBQH Trần Mạnh Huy nhấn mạnh, hải quan số không thể được thiết kế với giả định mọi người đều có thiết bị, kỹ năng và đường truyền như nhau. Cần kênh hỗ trợ có người hướng dẫn, giao diện tiếp cận cho người khuyết tật, phương thức xác thực thay thế và chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ, hợp tác xã ở địa bàn biên giới.
.jpg)
Làm rõ phạm vi điều chỉnh và cơ chế quản lý đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh, sử dụng khí N₂O
Liên quan đến Dự án Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục IV về danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật Đầu tư, ĐBQH Nguyễn Cao Sơn (Phú Thọ) cho rằng, đây là Dự án Luật có ý nghĩa quan trọng, trực tiếp tháo gỡ rào cản tiếp cận thị trường, mở rộng quyền tự do kinh doanh, giảm chi phí tuân thủ và tạo thêm động lực cho người dân, doanh nghiệp đầu tư, sản xuất và phát triển.
.jpg)
Đại biểu Nguyễn Cao Sơn đề nghị cần nhận diện điều kiện kinh doanh theo bản chất, không theo tên gọi. Cụ thể, nghiên cứu xác định một yêu cầu là điều kiện kinh doanh khi có đủ 3 dấu hiệu cơ bản. Một là, yêu cầu đó mang tính bắt buộc do cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền đặt ra. Hai là, việc đáp ứng yêu cầu đó là tiền đề để doanh nghiệp được gia nhập hoặc tiếp tục hoạt động trên thị trường. Ba là, nếu không đáp ứng thì doanh nghiệp bị từ chối, đình chỉ, hạn chế hoặc không được phép triển khai hoạt động kinh doanh.
Khi đáp ứng các dấu hiệu này thì phải được xem là điều kiện kinh doanh và phải chịu sự kiểm soát chặt chẽ của Luật Đầu tư, dù được gọi là “xác nhận”, “đăng ký”, “phê duyệt”, “công nhận”, “chấp thuận” hay “có ý kiến của cơ quan quản lý”.
Đối với chủ trương cấm kinh doanh khí N₂O để sử dụng cho con người ngoài mục đích hợp pháp, đại biểu thống nhất cần kiểm soát và xử lý nghiêm hành vi kinh doanh nhằm cung cấp cho con người sử dụng qua đường hô hấp trái phép, gây tác hại đến sức khỏe và ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội.
Dự thảo đã chỉnh lý theo hướng cấm kinh doanh N₂O để sử dụng cho con người qua đường hô hấp, nhưng loại trừ các mục đích y tế, công nghệ thực phẩm, kiểm nghiệm và nghiên cứu khoa học. Đại biểu Nguyễn Cao Sơn cho rằng khi tổ chức thực hiện phải tiếp tục giữ đúng tinh thần này: cấm đúng hành vi nguy hiểm, không cấm hoặc đặt thêm giấy phép bao trùm lên toàn bộ chuỗi sản xuất, nhập khẩu và phân phối hợp pháp.
Doanh nghiệp phải lưu vết giao dịch, xác minh khách hàng trong trường hợp cần thiết và chịu trách nhiệm nếu biết hoặc có đủ căn cứ để biết hàng hóa được cung cấp cho mục đích bị cấm. Nhưng cũng không nên mặc nhiên buộc doanh nghiệp sản xuất hoặc phân phối đầu chuỗi chịu trách nhiệm cho mọi hành vi sai phạm của người sử dụng cuối cùng, nằm ngoài khả năng kiểm soát hợp lý của doanh nghiệp. Phải xử lý đúng chủ thể, đúng hành vi và đúng mức độ lỗi.
.jpg)
.jpg)
Cùng cho ý kiến về chủ trương cấm kinh doanh khí N₂O để sử dụng cho con người ngoài mục đích hợp pháp, ĐBQH Nguyễn Văn Mạnh (Phú Thọ) nhấn mạnh, trong thời gian qua, tình trạng lạm dụng khí N₂O ngoài mục đích y tế diễn biến rất phức tạp, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng và trật tự an toàn xã hội.
Vì vậy, việc bổ sung ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh đối với N₂O để sử dụng cho con người qua đường hô hấp ngoài mục đích y tế là cần thiết, phù hợp với yêu cầu thực tiễn quản lý cũng như chủ trương tăng cường kiểm soát các loại khí, chất gây nghiện gây tác hại đến sức khỏe con người. Quy định này góp phần ngăn chặn tình trạng lạm dụng N₂O trong hoạt động giải trí, đồng thời khẳng định việc sử dụng khí N₂O cho con người qua đường hô hấp chỉ thực hiện vì mục đích y tế, qua đó đảm bảo sức khỏe cộng đồng và trật tự an toàn xã hội.
.jpg)
Tuy nhiên, đại biểu Nguyễn Văn Mạnh cũng đề nghị Bộ Tài chính tiếp tục rà soát, hoàn thiện các quy định để đảm bảo rõ ràng, khả thi trong quá trình áp dụng. Đồng thời, làm rõ phạm vi điều chỉnh và cơ chế quản lý đối với hoạt động sản xuất kinh doanh, sử dụng khí N₂O, nhằm bảo đảm việc cấm này chỉ áp dụng đối với hành vi sử dụng cho con người qua đường hô hấp ngoài mục đích y tế; mà không ảnh hưởng đến việc sản xuất kinh doanh, sử dụng khí N₂O phục vụ cho các mục đích hợp pháp khác theo quy định của pháp luật (như nghiên cứu khoa học, công nghiệp, chế biến thực phẩm và các lĩnh vực khác có liên quan).

