Chính trị

Từ quốc gia độc lập đến quốc gia phát triển

Quỳnh Chi 29/08/2026 08:07

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, trịnh trọng tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập”. Từ dấu mốc ấy đã mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam.

Từ quốc gia độc lập đến quốc gia phát triển

Từ quốc gia độc lập đến quốc gia phát triển

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, trịnh trọng tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập”. Từ dấu mốc ấy đã mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam.

81 năm sau ngày độc lập và yêu cầu tất yếu chuyển sang mô hình phát triển tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập

Độc lập là điều kiện tiên quyết để một dân tộc tự quyết định con đường phát triển của mình. Nhưng giành được độc lập mới là điểm khởi đầu của một hành trình dài lâu hơn: giữ vững độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; nâng cao đời sống Nhân dân, đưa đất nước phát triển phồn vinh, hạnh phúc.

Nhìn lại 81 năm qua, mỗi giai đoạn cách mạng lại đặt ra những nhiệm vụ mới. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhiệm vụ trọng tâm là xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng, bảo vệ nền độc lập vừa giành được và đấu tranh chống xâm lược, thống nhất đất nước; sau năm 1975, đất nước bước vào thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện hòa bình, thống nhất, khắc phục hậu quả chiến tranh và từng bước tạo lập những nền tảng cho phát triển; từ năm 1986, công cuộc Đổi mới tạo bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển, từng bước giải phóng các nguồn lực, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, mở cửa và hội nhập quốc tế.

Sau 40 năm Đổi mới, những nền tảng quan trọng của nền kinh tế đã được tạo dựng; đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như hiện nay. Cùng với những thành quả đó, điều kiện và yêu cầu phát triển cũng thay đổi. Đất nước cần một mô hình phát triển có chất lượng và hiệu quả cao hơn, dựa nhiều hơn vào năng suất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và sử dụng hiệu quả các nguồn lực.

Nghị quyết số 19-NQ/TW xác định đến năm 2030 nước ta hoàn thành các nền tảng cho mô hình phát triển mới trên các lĩnh vực
Nghị quyết số 19-NQ/TW xác định đến năm 2030 nước ta hoàn thành các nền tảng cho mô hình phát triển mới trên các lĩnh vực. Ảnh: P. Anh

Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam đặt yêu cầu ấy ở tầm chiến lược. Nghị quyết xác định đổi mới mô hình phát triển trước hết là tạo đột phá về thể chế, đổi mới phương thức tổ chức, quản trị và vận hành quốc gia, chuyển đổi sang mô hình phát triển tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập. Trong mô hình đó, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo quốc gia là động lực chính; hướng tới một nền kinh tế hiệu quả cao, sáng tạo, xanh, tự chủ, bao trùm và bền vững, đồng thời gắn đổi mới mô hình phát triển với đổi mới quản trị quốc gia và nâng cao năng lực tổ chức thực hiện.

Như vậy, đổi mới mô hình phát triển không đơn thuần là thay đổi một số động lực tăng trưởng. Khi yêu cầu phát triển thay đổi, cách Nhà nước xây dựng chính sách, tạo lập môi trường, phân bổ nguồn lực và tổ chức thực hiện cũng phải thay đổi. Đây là yêu cầu khách quan, tất yếu của chặng đường phát triển mới, đồng thời cũng đặt ra những yêu cầu mới đối với năng lực kiến tạo của Nhà nước, trong đó có năng lực kiến tạo bằng thể chế của Quốc hội.

Mô hình phát triển mới, yêu cầu quản trị mới

Một nền kinh tế lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo quốc gia là động lực chính không thể vận hành bằng phương thức quản lý như trước. Công nghệ, mô hình kinh doanh và các nguồn lực thay đổi nhanh hơn, chính sách nếu phản ứng chậm có thể trở thành lực cản của phát triển. Vì thế, Nghị quyết số 19-NQ/TW đặt ra yêu cầu chuyển từ quản lý hành chính theo ngành, lĩnh vực sang kết hợp hài hòa, hiệu quả với quản trị phát triển theo hệ sinh thái; từ kiểm soát sang kiến tạo phát triển. Điều này, trước hết đòi hỏi Nhà nước phải tạo lập được một môi trường thể chế thuận lợi cho các chủ thể phát triển, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, mở rộng không gian phát triển, sử dụng hiệu quả các nguồn lực và giữ vững kỷ cương. Pháp luật vì thế không chỉ là công cụ quản lý, mà phải thực sự trở thành lợi thế cạnh tranh, nền tảng vững chắc, động lực mạnh mẽ cho sự phát triển.

Lễ kỷ niệm, diễu binh, diễu hành 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9
Lễ kỷ niệm, diễu binh, diễu hành 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9. Ảnh: Lâm Hiển

Nghị quyết số 19-NQ/TW yêu cầu xây dựng pháp luật rõ ràng, khả thi, minh bạch, đồng bộ, thống nhất, ổn định, dễ thực hiện, linh hoạt và thích ứng nhanh với yêu cầu phát triển mới; đồng thời chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, quản lý theo kết quả, bảo đảm quyền sở hữu, quyền tài sản và quyền tự do kinh doanh.

Điều này đặt ra một vấn đề hết sức thực tiễn. Nếu động lực phát triển đã thay đổi nhưng cách xây dựng và thực thi chính sách vẫn như cũ thì chắc chắn những điểm nghẽn mới sẽ xuất hiện ngay trong quá trình vận hành mô hình mới. Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo khó trở thành động lực chính nếu pháp luật thiếu không gian cho thử nghiệm, đổi mới sáng tạo và chấp nhận những rủi ro cần thiết. Phân cấp, phân quyền cũng khó phát huy hiệu quả nếu không đi cùng nguồn lực, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực.

Bởi vậy, yêu cầu đổi mới mô hình phát triển gắn liền với yêu cầu nâng cao năng lực kiến tạo của Nhà nước. Trong đó, năng lực đó phải được thể hiện trước hết ở chất lượng, tính đồng bộ và khả năng vận hành của hệ thống pháp luật. Chính ở đây, vai trò của Quốc hội càng đặc biệt quan trọng.

Lễ kỷ niệm, diễu binh, diễu hành 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9
Lễ kỷ niệm, diễu binh, diễu hành 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9. Ảnh: Lâm Hiển

Chủ động tạo dựng khuôn khổ pháp lý cho những động lực phát triển mới

Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW của Bộ Chính trị giao nhiệm vụ cho Đảng ủy Quốc hội phối hợp với Đảng ủy Chính phủ và các Đảng ủy bộ, ngành Trung ương chỉ đạo rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật nhằm đổi mới mô hình phát triển đất nước; đồng thời nâng cao hiệu quả giám sát việc thực hiện pháp luật. Điều này đặt công tác lập pháp trước một yêu cầu cao hơn: không chỉ tháo gỡ những vướng mắc của hiện tại, mà phải chủ động tạo dựng khuôn khổ pháp lý cho những động lực phát triển mới.

Khi khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực chính, pháp luật phải tạo được không gian để cái mới hình thành, thử nghiệm và phát triển, đồng thời kiểm soát được rủi ro. Khi kinh tế tư nhân được xác định là một động lực quan trọng, pháp luật phải bảo đảm môi trường kinh doanh bình đẳng, quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh và khả năng tiếp cận nguồn lực. Những mô hình kinh doanh thay đổi nhanh chóng nhờ sự hỗ trợ của khoa học, công nghệ, trí tuệ nhân tạo cũng đòi hỏi pháp luật phải nâng cao khả năng thích ứng với thực tiễn.

Lễ kỷ niệm, diễu binh, diễu hành 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9
Lễ kỷ niệm, diễu binh, diễu hành 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9. Ảnh: Lâm Hiển

Nhưng kiến tạo bằng thể chế không đồng nghĩa với việc ban hành thêm nhiều luật, nhiều quy định. Điều quan trọng là làm cho hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ và phù hợp với yêu cầu phát triển. Một quy định có thể hợp lý nếu đứng riêng nhưng vẫn trở thành điểm nghẽn khi không tương thích với quy định ở lĩnh vực khác. Một chính sách có mục tiêu đúng nhưng thủ tục phức tạp, thẩm quyền chồng chéo, trách nhiệm không rõ hoặc thiếu nguồn lực thì khó tạo ra kết quả. Vì vậy, rà soát pháp luật cần tiến hành với tư duy hệ thống. Những quy định làm tăng chi phí tuân thủ, cản trở lưu chuyển nguồn lực, hạn chế đổi mới sáng tạo, chồng chéo thẩm quyền hoặc làm phát sinh tâm lý né tránh, sợ trách nhiệm cần được nhận diện và xử lý tối đa. Đồng thời, những lĩnh vực đang thay đổi nhanh hơn pháp luật cần được kịp thời tạo lập hành lang pháp lý phù hợp. Đó là bước chuyển từ tư duy “làm luật cho cái đang có” sang xây dựng pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển phía trước.

Thực tiễn cũng chỉ ra rằng, chất lượng của lập pháp không chỉ được quyết định bởi những đạo luật được thông qua. Nghị quyết số 19-NQ/TW nhấn mạnh quản trị theo mục tiêu, kết quả đầu ra và tác động; xác định rõ người, rõ việc, rõ thẩm quyền, rõ nguồn lực, rõ thời gian và sản phẩm đầu ra.

Yêu cầu này cần được phản ánh trong cách Quốc hội xem xét chính sách, xây dựng pháp luật và giám sát việc thực hiện. Một đạo luật được ban hành mới chỉ là điểm bắt đầu. Điều quan trọng hơn là sau đó luật có tạo ra thay đổi như mong muốn hay không. Từ đây đòi hỏi hoạt động giám sát của Quốc hội phải đổi mới mạnh mẽ hơn nữa, phải lấy hiệu quả thực thi luật là thước đo cao nhất. Qua giám sát, một quy định không phù hợp phải được nhận diện để sửa đổi; một thủ tục gây cản trở phải được chỉ ra để tháo gỡ; một chính sách không đạt mục tiêu phải được làm rõ nguyên nhân, dù nguyên nhân nằm ở thiết kế chính sách, nguồn lực hay tổ chức thực hiện. Như vậy, kết quả giám sát không chỉ để đánh giá trách nhiệm, mà còn là thông tin quan trọng để tiếp tục hoàn thiện chính sách và pháp luật. Giám sát phải thực sự trở thành kênh để Quốc hội nâng cao chất lượng lập pháp và năng lực quản trị quốc gia.

Tạo dựng nền tảng thể chế cho một chặng đường phát triển dài hạn

Nghị quyết số 19-NQ/TW xác định đến năm 2030 hoàn thành các nền tảng cho mô hình phát triển mới trên các lĩnh vực; đến năm 2035 hoàn thành cơ bản quá trình chuyển đổi sang mô hình phát triển đất nước tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập; đến năm 2045 trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội và định hướng đến năm 2130 Việt Nam trở thành quốc gia xã hội chủ nghĩa phát triển trình độ cao, văn minh, hiện đại, bản sắc, có năng lực sáng tạo và sức sống trường tồn. Hành trình ấy đòi hỏi sự nhất quán về mục tiêu nhưng cũng phải đủ linh hoạt để điều chỉnh chính sách trước những thay đổi của thực tiễn.

Lễ kỷ niệm, diễu binh, diễu hành 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9
Lễ kỷ niệm, diễu binh, diễu hành 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9. Ảnh: Lâm Hiển

Với Quốc hội, hoạt động lập pháp và giám sát phải được đặt trong tầm nhìn của cả quá trình chuyển đổi, không chỉ trong phạm vi một nhiệm kỳ hay một kế hoạch phát triển. Pháp luật phải đủ ổn định để tạo niềm tin, nhưng cũng phải có khả năng thích ứng nhanh chóng; phân cấp, phân quyền phải đi cùng trách nhiệm giải trình, nguồn lực và kiểm soát quyền lực; đánh giá chính sách cần được thực hiện cả trước và sau khi luật đi vào cuộc sống. Kết quả giám sát phải trở thành cơ sở để tiếp tục hoàn thiện pháp luật.

Đây cũng là cơ sở để tăng cường phối hợp giữa Quốc hội và Chính phủ trong toàn bộ quá trình từ hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật đến tổ chức thực hiện và đánh giá kết quả. Một chính sách chỉ có thể phát huy đầy đủ khi các khâu này được kết nối chặt chẽ, mỗi cơ quan thực hiện đúng chức năng, rõ trách nhiệm và cùng hướng tới mục tiêu chung.

Lễ kỷ niệm, diễu binh, diễu hành 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9
Lễ kỷ niệm, diễu binh, diễu hành 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9. Ảnh: Lâm Hiển

81 năm kể từ ngày độc lập, Việt Nam đã đi qua nhiều bước ngoặt lớn của lịch sử. Mỗi bước ngoặt đều đòi hỏi đất nước giải quyết những nhiệm vụ mới, từ giữ vững chính quyền cách mạng, bảo vệ độc lập, thống nhất đất nước đến xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, rồi tiến hành công cuộc Đổi mới và hội nhập quốc tế. Hôm nay, khi những nền tảng mới đã được tạo dựng và mục tiêu phát triển ngày càng cao, yêu cầu đặt ra là tiếp tục đổi mới cách thức phát triển để tạo ra năng suất, chất lượng phát triển, chất lượng cuộc sống của Nhân dân ở tầm cao hơn.

Đổi mới mô hình phát triển vì thế không phải là phủ nhận những gì đã có, mà là tiếp tục phát triển trên nền tảng của những thành quả đã được tạo dựng, với những động lực phù hợp hơn với điều kiện mới. Và cùng với đổi mới mô hình phát triển, Nhà nước phải nâng cao năng lực kiến tạo, từ xây dựng chính sách, hoàn thiện pháp luật đến tổ chức thực hiện và kiểm chứng kết quả.

Lễ kỷ niệm, diễu binh, diễu hành 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9
Lễ kỷ niệm, diễu binh, diễu hành 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9. Ảnh: Lâm Hiển

Pháp luật phải đi trước một bước để mở đường cho những động lực mới, không được tạo thêm rào cản; hệ thống pháp luật phải đồng bộ để các chính sách không triệt tiêu lẫn nhau; điều kiện thực hiện phải được tính ngay từ khi xây dựng chính sách; và giám sát phải đủ thực chất để chỉ ra những nơi pháp luật chưa tạo ra kết quả như mong muốn.

Đó là cách để Quốc hội không chỉ đáp ứng những vấn đề đặt ra trước mắt, mà còn góp phần tạo dựng nền tảng thể chế cho một chặng đường phát triển dài hạn. Từ một quốc gia giành lại độc lập đến một quốc gia hướng tới phát triển ở trình độ cao, yêu cầu xuyên suốt vẫn là làm cho Nhà nước ngày càng có năng lực hơn trong việc bảo vệ thành quả, mở rộng không gian phát triển và phục vụ Nhân dân.

Trong chặng đường mới, một mô hình phát triển mới chỉ có thể đi vào cuộc sống khi được nâng đỡ bởi một hệ thống thể chế phù hợp và một nền quản trị có đủ năng lực. Đây chính là một trong những yêu cầu lớn đặt ra đối với Quốc hội trong việc tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, kiến tạo phát triển, hiện đại và có năng lực thực thi cao.

Quỳnh Chi

    Từ quốc gia độc lập đến quốc gia phát triển
    • Mặc định