Từ Hiến pháp 1946 nghĩ về quyền chất vấn
Hiến pháp 1946 quy định bộ trưởng phải trả lời chất vấn chậm nhất trong mười ngày kể từ khi nhận được thư chất vấn. Đặt bên cạnh những quy định về trách nhiệm của Nội các, điều khoản này giúp lý giải mục đích của chất vấn và gợi ra những việc cần làm sau mỗi phiên chất vấn hôm nay.
Trong 70 điều của bản Hiến pháp đầu tiên, được Quốc hội thông qua ngày 9/11/1946, Điều 55 chỉ có hai câu. Một câu xác định bộ trưởng phải trả lời chất vấn của Nghị viện hoặc Ban thường vụ bằng thư từ hoặc lời nói. Câu còn lại ấn định thời hạn trả lời. Quyền yêu cầu giải thích về công việc của Chính phủ đã được ghi nhận cùng với nghĩa vụ đáp lại yêu cầu ấy.
Nhân 80 năm Hiến pháp 1946, đọc kỹ quy định này có thể giúp nhìn rõ hơn một yêu cầu của hoạt động dân cử đó là sau khi đại biểu nêu vấn đề, cần có căn cứ xác định người chịu trách nhiệm và theo dõi việc giải quyết.

Mười ngày và trách nhiệm trả lời
Thời hạn mười ngày tại Điều 55 khiến nghĩa vụ trả lời trở thành việc có thể kiểm tra. Nếu không có thời hạn, một yêu cầu dù chính đáng vẫn có thể bị trì hoãn. Khi thời điểm phải trả lời đã được xác định, Nghị viện có căn cứ để xem xét bộ trưởng có thực hiện nghĩa vụ hay không.[1]
Cần phân biệt thời hạn trả lời với thời hạn giải quyết vấn đề. Điều 55 quy định thời gian bộ trưởng phải trả lời sau khi nhận thư chất vấn; điều đó không có nghĩa mọi công việc được nêu trong chất vấn đều phải giải quyết xong trong mười ngày. Sự phân biệt này cũng cần thiết khi theo dõi hoạt động giám sát hiện nay. Một văn bản trả lời đã được gửi đúng hạn chưa đủ để kết luận kiến nghị của cử tri đã được giải quyết.
Đối với người dân, điều cần biết còn là công việc đang được xử lý đến đâu, vướng ở khâu nào và khi nào có kết quả. Bởi vậy, theo dõi câu trả lời cần đi cùng kiểm tra việc thực hiện những nội dung đã được xác định sau chất vấn. Nếu hai việc này bị nhập làm một, báo cáo có thể ghi nhận hoàn thành trong khi vấn đề khiến cử tri kiến nghị vẫn còn nguyên.
Từ góc độ của đại biểu, câu hỏi càng rõ thì càng thuận lợi cho việc theo dõi. Một câu hỏi về tình hình chung thường nhận lại báo cáo chung. Khi nêu một việc chậm giải quyết, đại biểu cần chỉ ra việc ấy thuộc thẩm quyền nào, đã kéo dài bao lâu và nội dung nào cần người bị chất vấn làm rõ. Việc chuẩn bị dữ liệu và kiểm tra phản ánh của cử tri vì thế có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng chất vấn.
Chẳng hạn, với một nhóm hồ sơ còn tồn đọng, số lượng hồ sơ chỉ là thông tin ban đầu. Cần làm rõ nguyên nhân chậm trễ, cơ quan nào có trách nhiệm xử lý và tiến độ dự kiến. Nếu nguyên nhân là quy định pháp luật chưa thống nhất, việc cần theo dõi sẽ là đề xuất sửa đổi hoặc hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền. Nếu nguyên nhân nằm ở khâu tổ chức thực hiện, yêu cầu giám sát phải hướng vào khâu đó.
Như vậy, thời hạn trả lời tạo căn cứ kiểm tra bước đầu. Để đánh giá kết quả chất vấn, còn phải đối chiếu nội dung trả lời với việc thực hiện. Đây là yêu cầu của hoạt động giám sát hôm nay được đặt ra từ việc đọc lại Điều 55; không nên hiểu rằng, Hiến pháp 1946 đã quy định đầy đủ các thủ tục theo dõi sau chất vấn như pháp luật hiện hành.

Xác định trách nhiệm của từng chức vụ
Đọc Điều 55 cùng Điều 54 Hiến pháp 1946 sẽ thấy nghĩa vụ trả lời nằm trong một thiết kế rộng hơn về trách nhiệm trước Nghị viện. Điều 54 quy định bộ trưởng không được Nghị viện tín nhiệm thì phải từ chức; Thủ tướng chịu trách nhiệm về con đường chính trị của Nội các. Toàn thể Nội các không phải chịu trách nhiệm liên đới về hành vi của một bộ trưởng.
Điều đáng chú ý là cách xác định trách nhiệm theo chức vụ và phạm vi công việc. Hành vi của một bộ trưởng được xem xét đối với người đó, còn đường hướng điều hành chung đặt ra trách nhiệm của Thủ tướng. Sự phân định này giúp cơ quan đại diện biết cần yêu cầu ai giải thích và cần đánh giá trách nhiệm ở cấp độ nào.
Trả lời chất vấn và biểu quyết tín nhiệm là hai thủ tục khác nhau. Không thể từ một câu trả lời chưa thỏa đáng suy ra hệ quả từ chức. Chính Điều 54 cũng xác định điều kiện nêu vấn đề tín nhiệm Nội các và dành thủ tục xem xét lại trong trường hợp được quy định. Nhưng khi đặt các điều khoản cạnh nhau, có thể thấy trách nhiệm trả lời của người giữ chức vụ gắn với sự giám sát của Nghị viện đối với việc họ thực thi nhiệm vụ.
Từ đó, chất vấn cần hướng vào việc thực hiện thẩm quyền cụ thể. Nếu câu trả lời nêu khó khăn do phối hợp giữa nhiều cơ quan, đại biểu cần làm rõ phần việc của từng cơ quan, nhất là trách nhiệm của cơ quan chủ trì. Việc có nhiều đơn vị cùng tham gia không thể làm mất đi khả năng xác định ai phải xử lý công việc ở mỗi giai đoạn.
Giám sát cũng phải xét đến điều kiện thực hiện. Có việc chậm do người có thẩm quyền chưa làm hết trách nhiệm; có việc vượt quá khả năng quyết định của một bộ trưởng hoặc một địa phương. Làm rõ sự khác nhau ấy giúp lựa chọn đúng biện pháp khắc phục, tránh yêu cầu người trả lời cam kết về việc họ không có quyền quyết định.
Đối với cơ quan dân cử, một kết quả quan trọng của chất vấn là phát hiện được vấn đề cần xử lý bằng sửa đổi pháp luật, quyết định về ngân sách hoặc điều chỉnh cách tổ chức thực hiện. Nếu nguyên nhân thuộc về chính sách mà kết luận chỉ yêu cầu người đứng đầu “tăng cường trách nhiệm”, vấn đề khó được giải quyết. Ngược lại, khi thẩm quyền và điều kiện đã rõ, cần xem xét đầy đủ trách nhiệm thực hiện của cá nhân được giao nhiệm vụ.

Cử tri cần biết kết quả sau chất vấn
Hiến pháp 1946 còn quy định nghị viên thay mặt toàn thể nhân dân, đồng thời xác định Nghị viện họp công khai, công chúng được vào nghe và báo chí được thuật lại các cuộc thảo luận, quyết nghị. Đặt quyền chất vấn trong quan hệ đại diện và sự công khai ấy, có thể thấy người dân có cơ sở để theo dõi cả hoạt động của Chính phủ lẫn người đại diện cho mình.[2]
Ngày nay, trách nhiệm theo dõi sau giám sát đã được pháp luật quy định. Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025, có hiệu lực từ ngày 1/3/2026, quy định trách nhiệm thường xuyên theo dõi, đôn đốc, xem xét việc thực hiện nghị quyết, kết luận, kiến nghị giám sát. Luật cũng quy định việc yêu cầu báo cáo giải trình và cơ chế xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị xử lý khi việc thực hiện không đáp ứng yêu cầu.[3] Cơ sở pháp lý đã có. Công việc tiếp theo là xác định rõ kết quả cần đạt đối với từng nội dung và căn cứ để kiểm tra kết quả ấy.
Chẳng hạn, khi chất vấn về hồ sơ tồn đọng, báo cáo “đã họp liên ngành” hay “đã ban hành kế hoạch” mới cho biết những việc cơ quan có trách nhiệm đã triển khai. Đại biểu cần đối chiếu thêm số hồ sơ thực sự được giải quyết, thời gian xử lý và nguyên nhân của phần còn lại. Qua tiếp xúc cử tri, khảo sát hoặc phối hợp giám sát, đại biểu có thể kiểm tra mức độ phù hợp giữa báo cáo với thực tế. Phản ánh của người dân là nguồn thông tin cần thiết, đồng thời phải được xác minh để việc đánh giá có căn cứ.
Việc công khai cũng cần giúp cử tri thuận tiện theo dõi. Nội dung chất vấn, yêu cầu giải quyết và báo cáo kết quả thực hiện nên được tập hợp để có thể tra cứu, đối chiếu. Khi những thông tin này nằm rời rạc ở nhiều văn bản, cử tri khó xác định việc nào đã hoàn thành, việc nào còn chậm và cơ quan nào đang chịu trách nhiệm. Công khai tiến độ còn giúp đại biểu nhận được phản hồi kịp thời về những kết quả chưa sát thực tế.
Một việc khác cần được chú ý là bàn giao những nội dung đang giám sát khi tổ chức bộ máy hoặc nhân sự thay đổi. Hồ sơ theo dõi cần ghi rõ công việc còn lại, thời hạn và cơ quan tiếp nhận trách nhiệm giải quyết. Trách nhiệm của người đã ban hành quyết định trước đó được xem xét theo căn cứ, thẩm quyền tương ứng. Những yêu cầu đã đặt ra tại nghị trường cần được tiếp tục theo dõi qua quá trình chuyển giao này.
Tám mươi năm đã qua, bài học từ Hiến pháp 1946 về trách nhiệm của người được trao quyền vẫn còn nguyên giá trị: phải trả lời trước cơ quan đại diện của nhân dân, trong một thời hạn xác định. Những điều khoản ngắn gọn ấy vẫn vang vọng tiếng dân, nhắc người đại biểu rằng việc lên tiếng tại nghị trường gắn liền với trách nhiệm theo dõi những điều cử tri gửi gắm. Tiếp nối tinh thần ấy hôm nay là làm rõ kết quả sau mỗi lời cam kết, để khi trở lại với cử tri, đại biểu có thể trả lời việc dân đã được giải quyết đến đâu và ai còn phải chịu trách nhiệm về phần việc chưa hoàn thành.
[1] Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946, các điều 54, 55; Văn kiện Quốc hội toàn tập, tập I, Cổng thông tin điện tử Quốc hội.
[2] Hiến pháp năm 1946, các điều 25, 30.
[3] Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân số 121/2025/QH15, khoản 7 Điều 5, Điều 40.

