Chính trị

Tự hào về lịch sử, trách nhiệm với tương lai

PGS.TS. Bùi Hoài Sơn 29/08/2026 07:06

Kỷ niệm 81 năm Quốc khánh 2/9 là dịp để chúng ta nhìn lại hành trình từ một dân tộc giành lại quyền làm chủ vận mệnh đến một đất nước đang đứng trước yêu cầu làm chủ tương lai phát triển. Nếu Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 khẳng định quyền độc lập, tự do thiêng liêng của dân tộc, thì Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam đặt ra một yêu cầu mới: xây dựng năng lực tự chủ, sáng tạo, khả năng tự thích ứng, giải phóng mọi nguồn lực và đưa con người thực sự trở thành trung tâm của phát triển.

Tự hào về lịch sử, trách nhiệm với tương lai

Tự hào về lịch sử, trách nhiệm với tương lai

PGS.TS. Bùi Hoài Sơn

Kỷ niệm 81 năm Quốc khánh 2/9 là dịp để chúng ta nhìn lại hành trình từ một dân tộc giành lại quyền làm chủ vận mệnh đến một đất nước đang đứng trước yêu cầu làm chủ tương lai phát triển. Nếu Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 khẳng định quyền độc lập, tự do thiêng liêng của dân tộc, thì Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam đặt ra một yêu cầu mới: xây dựng năng lực tự chủ, sáng tạo, khả năng tự thích ứng, giải phóng mọi nguồn lực và đưa con người thực sự trở thành trung tâm của phát triển.

Từ quyền làm chủ vận mệnh đến năng lực làm chủ tương lai

Mỗi dịp Quốc khánh 2/9, trong tâm thức người Việt Nam lại vang lên những lời bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình năm 1945. Đó không chỉ là tuyên bố về sự ra đời của một Nhà nước mới, mà sâu xa hơn là lời khẳng định một dân tộc đã giành lại quyền tự quyết định vận mệnh của mình. Từ khoảnh khắc lịch sử ấy, độc lập trở thành điều kiện tiên quyết để Nhân dân được sống trong tự do, đất nước được kiến thiết theo con đường mình lựa chọn, và các thế hệ người Việt Nam có trách nhiệm làm cho nền độc lập ấy ngày càng có nội dung phong phú hơn.

Tám mươi mốt năm đã đi qua. Việt Nam hôm nay đã khác rất xa một đất nước vừa bước ra khỏi chế độ thuộc địa, phải đối mặt với đói nghèo, chiến tranh và muôn vàn khó khăn. Qua nhiều thập niên bảo vệ Tổ quốc, xây dựng đất nước và đổi mới, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam đã được nâng lên. Nhưng lịch sử luôn đặt ra những câu hỏi mới. Nếu thế hệ cha anh phải trả lời câu hỏi làm thế nào giành và giữ được độc lập, thì thế hệ hôm nay phải trả lời thêm: làm thế nào để một đất nước độc lập phát triển nhanh hơn, bền vững hơn, tự chủ hơn và đem lại cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn cho Nhân dân?

Chính trong ý nghĩa đó, Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam có một giá trị đặc biệt. Đây không chỉ là một nghị quyết về kinh tế hay tăng trưởng. Nghị quyết đặt vấn đề rộng hơn: phải đổi mới cách chúng ta tạo ra, tổ chức, phân bổ và thụ hưởng các nguồn lực phát triển; đổi mới mô hình kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường và quản trị quốc gia; hình thành năng lực để đất nước không chỉ tăng trưởng mà còn có khả năng tự chủ, tự đổi mới và thích ứng trước những biến động ngày càng nhanh của thế giới.

Ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc ta. Ảnh tư liệu
Ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc ta. Ảnh tư liệu

Trước khi Nghị quyết được ban hành, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh mô hình phát triển mới phải hướng tới “năng lực trường tồn quốc gia”, đồng thời xây dựng “năng lực tự chủ sáng tạo và khả năng tự thích ứng của quốc gia”. Tinh thần ấy đưa khái niệm độc lập sang một tầng ý nghĩa mới. Độc lập trong thế kỷ XXI không thể chỉ được bảo đảm bằng chủ quyền lãnh thổ, mà còn phải được củng cố bằng khả năng làm chủ tri thức, công nghệ, dữ liệu, nguồn nhân lực, thị trường, chuỗi cung ứng, năng lượng, tài chính, văn hóa và năng lực quản trị.

Tự chủ phát triển không có nghĩa là khép mình, càng không phải quay lại tư duy tự cung tự cấp. Tự chủ là hội nhập sâu rộng nhưng có năng lực lựa chọn; hợp tác rộng mở nhưng có khả năng đứng vững; tiếp nhận thành tựu của nhân loại nhưng đồng thời tạo ra tri thức, công nghệ, sản phẩm và giá trị của chính Việt Nam. Một quốc gia có thể độc lập về chính trị nhưng vẫn dễ bị tổn thương nếu công nghệ cốt lõi phụ thuộc hoàn toàn vào bên ngoài, nền kinh tế chỉ nằm ở những khâu gia công giá trị thấp, dữ liệu quan trọng không được làm chủ hay bản sắc văn hóa bị hòa tan.

Nghị quyết 19 đặt mục tiêu đến năm 2035 cơ bản hoàn thành quá trình chuyển đổi sang mô hình phát triển đất nước “tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập”. Năm từ khóa ấy có thể xem như một cách diễn đạt cô đọng về hình ảnh Việt Nam mà chúng ta muốn xây dựng: tự cường để không bị động; sáng tạo để không mắc kẹt trong mô hình cũ; nhân văn để phát triển cuối cùng phải vì con người; bền vững để hôm nay không đánh đổi tương lai; và hội nhập để sức mạnh dân tộc được nhân lên trong sức mạnh của thời đại.

Nhìn từ ngày Quốc khánh, đó chính là sự tiếp nối sâu sắc tinh thần năm 1945. Khi một dân tộc giành được quyền làm chủ vận mệnh, trách nhiệm tiếp theo là không ngừng nâng cao năng lực làm chủ tương lai. Độc lập vì thế không phải một thành quả chỉ để tưởng nhớ, mà là một năng lực phải được làm mới mỗi ngày bằng tri thức, năng suất, sáng tạo, kỷ luật, văn hóa và khát vọng phát triển.

Giải phóng nguồn lực, khơi dậy sức sáng tạo Việt Nam

Một trong những điểm quan trọng nhất của Nghị quyết 19 là yêu cầu chuyển mạnh từ mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào vốn, lao động, tài nguyên và gia công sang mô hình dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và năng suất lao động cao. Đây là bước chuyển không dễ dàng, bởi mô hình phát triển liên quan đến chất lượng thể chế, cấu trúc nền kinh tế, năng lực doanh nghiệp, nguồn nhân lực, hạ tầng, giáo dục, khoa học, văn hóa và cả thói quen quản lý đã hình thành qua nhiều năm.

Những động lực từng giúp Việt Nam tăng trưởng nhanh đang dần chạm giới hạn. Lợi thế lao động giá rẻ sẽ giảm khi mức sống tăng và tự động hóa phát triển. Khai thác tài nguyên không thể kéo dài nếu muốn giữ môi trường cho các thế hệ sau. Gia công có thể tạo việc làm nhưng khó đưa đất nước lên những nấc thang cao của chuỗi giá trị nếu doanh nghiệp Việt Nam không làm chủ công nghệ, thiết kế, thương hiệu, dữ liệu và thị trường. Vì vậy, đổi mới mô hình phát triển trước hết là đổi mới cách tạo ra giá trị.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 3, khóa XIV
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 3, khóa XIV Ảnh: Phạm Thắng

Ở đây, tôi đặc biệt chú ý đến tinh thần giải phóng và phát huy hiệu quả mọi nguồn lực phát triển. Nguồn lực của đất nước không chỉ nằm trong ngân sách hay những dự án đầu tư lớn. Nguồn lực còn nằm trong hàng triệu doanh nghiệp và hộ kinh doanh; trong trí tuệ của đội ngũ trí thức, nhà khoa học, văn nghệ sĩ; trong sức sáng tạo của người trẻ; trong di sản của cộng đồng; trong đất đai, dữ liệu, tài sản công; trong mạng lưới người Việt Nam ở nước ngoài và đặc biệt trong niềm tin của người dân vào tương lai.

Muốn giải phóng những nguồn lực ấy, thể chế phải thực sự trở thành lợi thế cạnh tranh quốc gia. Một ý tưởng sáng tạo sẽ khó trở thành sản phẩm nếu bị chặn bởi thủ tục không cần thiết. Một doanh nghiệp có tiềm năng sẽ khó lớn nếu mất quá nhiều thời gian cho rào cản hành chính. Một nhà khoa học khó tạo đột phá nếu cơ chế tài chính chủ yếu được thiết kế để tránh sai hơn là khuyến khích thành công. Một địa phương khó phát huy lợi thế nếu mọi quyết định đều phải chờ nhiều tầng nấc xin - cho. Và một người trẻ sẽ khó nuôi dưỡng khát vọng nếu xã hội không tạo không gian để thử nghiệm, thất bại và bắt đầu lại.

Vì vậy, đổi mới mô hình phát triển phải đi cùng đổi mới mô hình quản trị. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ rõ tại Hội nghị quán triệt Nghị quyết Trung ương 3, khóa XIV: “Chất lượng thực thi là thước đo năng lực lãnh đạo, cầm quyền”. Tôi cho rằng, đây là yêu cầu rất đúng với giai đoạn hiện nay. Chúng ta đã có nhiều chủ trương đúng; điều cần thiết hơn lúc này là biến những chủ trương đó thành những thay đổi người dân và doanh nghiệp có thể cảm nhận được trong đời sống.

Một nền quản trị hiện đại không thể đo thành công bằng số lượng văn bản hay số cuộc họp. Nó phải được đo bằng thời gian doanh nghiệp đưa dự án vào hoạt động; thời gian người dân hoàn thành thủ tục; số sáng kiến được đưa ra thị trường; số doanh nghiệp Việt Nam tham gia những khâu có giá trị cao hơn; năng suất lao động tăng ra sao; chất lượng môi trường, giáo dục, y tế, văn hóa được cải thiện thế nào; và cuối cùng là niềm tin xã hội có được củng cố hay không.

Tôi vẫn cho rằng nguồn lực lớn nhất của Việt Nam là con người Việt Nam. Nhưng sức sáng tạo chỉ thật sự trở thành động lực phát triển khi được đặt trong một hệ sinh thái khuyến khích sáng tạo: giáo dục nuôi dưỡng tư duy độc lập; khoa học tôn trọng liêm chính và tự do học thuật; thị trường bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; hành chính biết đồng hành và chia sẻ rủi ro hợp lý với doanh nghiệp; xã hội trân trọng người làm thật, sáng tạo thật và những giá trị được tạo ra bằng năng lực thực chất.

Nếu Cách mạng Tháng Tám năm 1945 giải phóng sức mạnh chính trị của toàn dân tộc để giành độc lập, thì công cuộc đổi mới mô hình phát triển hôm nay phải tiếp tục giải phóng sức sáng tạo, khát vọng và năng lực cống hiến của mỗi con người Việt Nam. Đó cũng là cách ý nghĩa của độc lập được chuyển hóa thành sức mạnh phát triển trong thời đại mới.

Phát triển nhanh hơn để mỗi người dân được sống tốt hơn

Có một điều cần luôn được nhắc lại khi chúng ta nói về mô hình phát triển mới: tăng trưởng không phải mục tiêu cuối cùng. Tăng trưởng là điều kiện để một đất nước mạnh lên, nhưng sự phát triển chỉ thật sự có ý nghĩa khi thành quả ấy trở thành cơ hội, phẩm giá, hạnh phúc và chất lượng sống của con người.

Nghị quyết 19 vì vậy không chỉ đặt vấn đề tăng năng suất hay đổi mới công nghệ. Một tư tưởng xuyên suốt là lấy Nhân dân và con người làm trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực của phát triển. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh đổi mới mô hình phát triển “không chỉ là điều chỉnh tăng trưởng”, mà còn là đổi mới cách tạo ra, phân bổ và thụ hưởng thành quả phát triển. Đây là điểm tạo nên chiều sâu nhân văn của Nghị quyết.

Nguồn: vietnam.vnanet.vn
Nguồn: vietnam.vnanet.vn

Đó cũng là lý do mô hình phát triển mới được xác định là “nhân văn”. Hai chữ này rất quan trọng. Một xã hội có thể giàu lên nhưng chưa chắc đã phát triển toàn diện nếu khoảng cách cơ hội ngày càng lớn, môi trường suy thoái, con người bị cuốn vào áp lực vật chất, các quan hệ cộng đồng suy yếu hay những giá trị đạo đức bị xói mòn. Phát triển phải làm con người mạnh hơn về năng lực, phong phú hơn về đời sống tinh thần và có trách nhiệm hơn với cộng đồng.

Văn hóa vì thế không thể đứng ngoài câu chuyện đổi mới mô hình phát triển. Văn hóa tạo nên hệ giá trị định hướng cách xã hội sử dụng sự giàu có, công nghệ và quyền lực. Công nghệ càng phát triển, càng cần đạo đức để định hướng sử dụng. Thị trường càng mở rộng, càng cần văn hóa kinh doanh và trách nhiệm xã hội. Không gian số càng lớn, càng cần năng lực số và đạo đức số. Hội nhập càng sâu, bản sắc càng phải trở thành sức mạnh giúp chúng ta bước ra thế giới một cách tự tin.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã nêu yêu cầu con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới cần có tư duy sáng tạo, khả năng học tập suốt đời, năng lực thích ứng nhanh, năng lực hợp tác trong môi trường toàn cầu, năng lực số, đạo đức số và tinh thần công dân số. Đây không chỉ là mô tả một mẫu hình con người, mà chính là yêu cầu về “hạ tầng con người” cho một đất nước muốn phát triển bằng tri thức và sáng tạo.

Kỷ niệm 81 năm Quốc khánh 2/9 trong năm đầu tiên triển khai Nghị quyết Đại hội XIV và ngay sau khi Trung ương ban hành Nghị quyết 19 đem lại một cảm nhận rất rõ về sự tiếp nối của lịch sử. Năm 1945, khát vọng lớn nhất của dân tộc là độc lập, tự do. Hôm nay, trên nền tảng ấy, khát vọng của chúng ta là xây dựng một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng, nhân văn, hạnh phúc; một đất nước không chỉ đứng vững trước biến động của thời đại mà còn có năng lực tạo ra tương lai của chính mình.

Từ Ba Đình mùa Thu năm 1945 đến Việt Nam của năm 2026 là hành trình của một dân tộc không ngừng mở rộng nội hàm của hai chữ độc lập: độc lập để tự quyết định con đường đi; độc lập để người dân thực sự là chủ nhân; độc lập để sáng tạo; độc lập để hội nhập với tâm thế tự tin; và cao hơn hết, độc lập để mỗi thế hệ người Việt Nam có cơ hội xây dựng một đất nước tốt đẹp hơn thế hệ trước.

Nghị quyết 19 đặt ra một mô hình phát triển mới, nhưng thành công của mô hình ấy cuối cùng phụ thuộc vào tinh thần hành động của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Khi thể chế thực sự giải phóng sức sáng tạo, khoa học và công nghệ trở thành động lực chủ yếu, doanh nghiệp được khuyến khích lớn lên bằng năng lực và đổi mới, mỗi địa phương biết biến lợi thế thành giá trị, và mỗi người dân nhìn thấy cơ hội đóng góp cũng như thụ hưởng, chúng ta sẽ tạo nên nguồn năng lượng mới cho đất nước.

Có lẽ đó là cách thiết thực nhất để kỷ niệm Quốc khánh: không chỉ tự hào về một ngày lịch sử, mà biến niềm tự hào thành trách nhiệm với tương lai. Tám mươi mốt năm trước, cha ông đã giành quyền quyết định vận mệnh dân tộc. Trách nhiệm của chúng ta hôm nay là sử dụng thật tốt quyền ấy để xây dựng năng lực tự chủ phát triển, để Việt Nam bước vào những thập niên tới bằng trí tuệ của mình, bản lĩnh của mình, văn hóa của mình và khát vọng của chính mình.

    Tự hào về lịch sử, trách nhiệm với tương lai
    • Mặc định