Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Tự do sáng tạo phải đồng hành với trách nhiệm trước lịch sử

Ngọc Nhân 20/06/2026 22:44

Từ những tranh luận quanh Nỗi buồn chiến tranh đến việc xử lý cuốn Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng, đời sống văn học, xuất bản một lần nữa đặt ra vấn đề không mới nhưng luôn có ý nghĩa thời sự: tự do sáng tạo phải được tôn trọng, khuyến khích, bảo vệ; nhưng tự do ấy không thể tách rời trách nhiệm trước lịch sử, trước Nhân dân, trước những biểu tượng văn hóa và nền tảng tinh thần của dân tộc. Văn chương có thể đi vào nỗi đau, có thể phản tỉnh, có thể tìm tòi cách biểu đạt mới, nhưng không thể đứng ngoài vận mệnh quốc gia, càng không thể nhân danh sáng tạo để làm tổn thương niềm tin xã hội.

Tự do sáng tạo trong mạch nguồn văn hóa và trách nhiệm công dân

Văn học, nghệ thuật trước hết là lĩnh vực của sáng tạo. Không có tự do, khó có tác phẩm lớn. Không có cá tính, khó có phát hiện nghệ thuật. Không có những tìm tòi mới, văn chương dễ trở thành sự lặp lại của những khuôn mẫu quen thuộc. Một nền văn học trưởng thành không thể chỉ có một giọng nói, một cách nhìn, một hình thức biểu đạt. Nó cần sự phong phú, đa dạng, đối thoại, phản tỉnh; cần khả năng đi vào những vùng sâu của đời sống con người, kể cả nỗi đau, mất mát, bi kịch và những day dứt của lịch sử.

Nhưng tự do sáng tạo không đồng nghĩa với sự tùy tiện. Càng trong một xã hội hiện đại, khi tác phẩm văn học, nghệ thuật có thể lan tỏa nhanh chóng, tác động rộng rãi đến nhận thức và cảm xúc công chúng, trách nhiệm của người sáng tạo càng phải được đặt ra nghiêm túc. Một câu chữ không chuẩn xác về lịch sử có thể tạo ra ngộ nhận. Một cách diễn giải thiếu căn cứ về nhân vật lịch sử có thể làm sai lệch nhận thức. Một lối “giải thiêng” cực đoan, nếu thiếu tri thức và thiếu sự kính trọng cần thiết, có thể không làm lịch sử sáng rõ hơn, mà chỉ làm tổn thương niềm tin xã hội.

Trong văn hóa Việt Nam, văn chương là nơi gửi gắm đạo lý, nhân cách và trách nhiệm với cộng đồng. “Văn dĩ tải đạo” không ràng buộc sáng tạo, mà nhắc người cầm bút hướng cái đẹp tới lòng nhân ái, tình yêu đất nước và lẽ phải. Tinh thần ấy cũng hiện diện trong nếp sống người Việt, từ việc kiêng đặt tên trùng với bậc trên đến tục tránh gọi tên húy, tên vua, tên người được tôn kính. Đó là những biểu hiện cụ thể của văn hóa trọng nghĩa, trọng lễ, trọng sự thiêng liêng; đồng thời cho thấy tự do biểu đạt bao giờ cũng cần đi cùng sự chừng mực, lòng kính trọng và trách nhiệm trước những giá trị chung.

bh.jpg
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật chính là bảo vệ chiều sâu tinh thần của dân tộc. Nguồn: TT

Tất nhiên, xã hội hôm nay đã khác. Văn học, nghệ thuật không thể bị đóng khung trong những cách hiểu cũ. Tác phẩm hiện đại có thể giàu tính cá nhân hơn, đa thanh hơn, phóng khoáng hơn, thậm chí có thể chất vấn những vấn đề từng được nhìn nhận một chiều. Nhưng dù hình thức biểu đạt có thay đổi, nền tảng văn hóa của dân tộc không vì thế mà mất đi. Sự tôn kính đối với lịch sử, lãnh tụ, anh hùng dân tộc, những người đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc vẫn là một chuẩn mực đạo lý cần được gìn giữ.

Nhà thơ, nhà phê bình T.S. Eliot từng viết trong tiểu luận nổi tiếng Truyền thống và tài năng cá nhân (Tradition and the Individual Talent): “Không nhà thơ, không nghệ sĩ của bất kỳ nghệ thuật nào có đầy đủ ý nghĩa nếu đứng một mình”. Ý tưởng ấy, dù được đặt trong truyền thống phê bình văn học phương Tây, vẫn có giá trị gợi mở rất lớn với chúng ta hôm nay. Người nghệ sĩ có cá tính sáng tạo riêng, nhưng tác phẩm của họ không tồn tại trong khoảng trống. Nó luôn được đọc, được hiểu, được đánh giá trong quan hệ với truyền thống, lịch sử, cộng đồng và hệ giá trị mà xã hội đã tích lũy. Sáng tạo càng mới mẻ, càng cần một nền tảng văn hóa đủ sâu; cá tính càng mạnh, càng cần ý thức về trách nhiệm trước di sản chung.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”. Câu nói ấy khẳng định vị thế và trách nhiệm của người nghệ sĩ. Bởi văn chương có khả năng tác động đến đời sống tinh thần của xã hội; có thể bồi đắp niềm tin, lý tưởng, nhân cách, nhưng cũng có thể bị lợi dụng để gieo nghi ngờ, chia rẽ, làm suy yếu nền tảng tư tưởng và bản lĩnh văn hóa dân tộc.

Từ góc nhìn đó, những tranh luận liên quan đến Nỗi buồn chiến tranhChuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng cần được đặt trong một bình diện rộng hơn. Đây không chỉ là chuyện đánh giá một cuốn sách hay cách xử lý một sai phạm xuất bản. Đây còn là câu chuyện về chuẩn mực sáng tạo trong không gian văn hóa Việt Nam; về mối quan hệ giữa quyền tự do sáng tác và trách nhiệm xã hội; giữa tìm tòi nghệ thuật và giới hạn đạo lý; giữa quyền diễn giải lịch sử và nghĩa vụ tôn trọng sự thật lịch sử.

Với Nỗi buồn chiến tranh, cần nhìn nhận rõ hơn giới hạn tư tưởng của tác phẩm. Văn chương có quyền viết về nỗi đau, mất mát và ám ảnh hậu chiến; nhưng nếu nỗi đau trở thành lăng kính gần như duy nhất để nhìn cuộc kháng chiến chính nghĩa của dân tộc, nếu bi kịch cá nhân lấn át lý tưởng độc lập, tự do và khát vọng thống nhất đất nước, thì tác phẩm rất dễ dẫn người đọc, nhất là thế hệ trẻ, đến cách hiểu lệch lạc về lịch sử.

Điều cần phê phán không phải là “nỗi buồn”, mà là cách đặt nỗi buồn ấy trong hệ giá trị nào. Chiến tranh cách mạng của Nhân dân Việt Nam không phải là một bi kịch vô nghĩa, mà là cuộc đấu tranh chính nghĩa để bảo vệ quyền sống, quyền độc lập và phẩm giá dân tộc. Vì vậy, khi tác phẩm quá nhấn mạnh sự hoang mang, đổ vỡ, phi lý mà không làm sáng rõ nền tảng chính nghĩa của sự hy sinh, nó có nguy cơ làm mờ ranh giới giữa mất mát cao cả và mất mát vô nghĩa.

Chính vì thế, việc một tác phẩm như vậy được đọc, được nghiên cứu, được tranh luận là một chuyện; còn việc tôn vinh như một đại diện tiêu biểu trong không gian chính thức lại là chuyện khác. Vinh danh không chỉ là đánh giá nghệ thuật, mà còn là xác lập biểu tượng và truyền đi thông điệp về hệ giá trị xã hội đề cao. Với những tác phẩm dễ tạo ra diễn giải xét lại lịch sử, tiêu chí nghệ thuật không thể tách rời tiêu chí tư tưởng, trách nhiệm lịch sử và sự đồng thuận xã hội.

Trong bối cảnh các thế lực thù địch thường lợi dụng văn học, nghệ thuật để thúc đẩy tâm lý hoài nghi, làm mờ chính nghĩa của cuộc kháng chiến, việc phê phán những khuynh hướng diễn giải lệch chuẩn là cần thiết. Văn chương có thể buồn, có thể đau, có thể day dứt; nhưng không thể để nỗi buồn phủ bóng lên bản lĩnh dân tộc, làm suy giảm lòng biết ơn đối với những người đã hy sinh vì độc lập, thống nhất và tương lai của đất nước.

Với Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng, vấn đề không còn nằm ở giới hạn của hư cấu hay khác biệt trong cảm nhận thẩm mỹ, mà đã chạm trực tiếp đến kỷ cương xuất bản và chuẩn mực lịch sử. Khi một cuốn sách đưa ra thông tin, nhận định không chính xác về nhân vật, sự kiện lịch sử; sử dụng ngôn ngữ thiếu phù hợp với Chủ tịch Hồ Chí Minh và một số lãnh đạo tiền bối của Đảng, thì đó không thể được bao biện bằng danh nghĩa “cách nhìn mới” hay “thử nghiệm sáng tạo”. Lịch sử dân tộc, lãnh tụ và những biểu tượng được Nhân dân tôn kính không phải là chất liệu tùy tiện để nhào nặn theo cảm hứng chủ quan.

Điều cần phê phán sâu sắc ở đây là sự lẫn lộn giữa sáng tạo và xuyên tạc, giữa đối thoại học thuật và phát ngôn thiếu căn cứ, giữa giải thích lịch sử và tầm thường hóa biểu tượng. Lịch sử không sợ nghiên cứu, nhưng nghiên cứu phải dựa trên tư liệu, phương pháp và sự trung thực. Hư cấu có quyền tưởng tượng, nhưng không có quyền làm sai lệch sự thật cốt lõi. Phê bình có quyền đặt câu hỏi, nhưng không được xúc phạm những giá trị đã trở thành niềm tin thiêng liêng của dân tộc.

Từ sự việc này, cần nhìn rõ trách nhiệm không chỉ của tác giả, mà còn của biên tập viên, nhà xuất bản, cơ quan chủ quản và toàn bộ quy trình thẩm định. Một sai lệch về lịch sử khi được in thành sách sẽ không còn là sai sót cá nhân, mà có thể trở thành tác nhân gây nhiễu loạn nhận thức xã hội, nhất là trong bối cảnh các thế lực thù địch luôn tìm cách lợi dụng văn hóa, xuất bản để làm suy giảm niềm tin vào lãnh tụ, vào Đảng và vào con đường cách mạng của dân tộc. Vì vậy, xử lý nghiêm những biểu hiện lệch chuẩn như vậy không phải là hạn chế sáng tạo, mà là bảo vệ sự thật lịch sử, bảo vệ đạo lý dân tộc và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng từ chiều sâu văn hóa.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng từ chiều sâu văn hóa và niềm tin lịch sử

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật không có nghĩa là phủ nhận tự do sáng tạo, càng không đồng nghĩa với sự khép kín, cực đoan hay sợ hãi tranh luận. Ngược lại, muốn bảo vệ nền tảng tư tưởng một cách thuyết phục, chúng ta càng cần một đời sống văn học, nghệ thuật lành mạnh, sâu sắc, giàu tính nhân văn, có năng lực đối thoại và có bản lĩnh văn hóa. Điều cần đấu tranh không phải là sự khác biệt chính đáng trong sáng tạo, mà là những biểu hiện nhân danh sáng tạo để làm sai lệch lịch sử, xúc phạm biểu tượng, phủ nhận giá trị cách mạng, gieo nghi ngờ vào niềm tin xã hội.

Trong thực tế, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị thường không chỉ chống phá bằng những luận điệu trực diện. Họ có thể lợi dụng các tranh luận văn học, nghệ thuật để khoét sâu khác biệt, làm mờ ranh giới đúng - sai, thật - giả; thúc đẩy tâm lý xét lại lịch sử; tách rời chiến thắng của dân tộc khỏi lý tưởng độc lập, tự do; tách rời sự hy sinh của các thế hệ cha anh khỏi ý nghĩa cao cả của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Khi những biểu tượng lịch sử, lãnh tụ, anh hùng dân tộc bị tầm thường hóa, khi lịch sử bị diễn giải tùy tiện, khi niềm tin bị làm cho lung lay từng chút một, đó chính là một dạng “diễn biến hòa bình” trên mặt trận văn hóa, tư tưởng.

Vì vậy, đấu tranh trong lĩnh vực này trước hết là đấu tranh bằng tri thức, lý lẽ, chuẩn mực và pháp luật. Không thể chỉ phản ứng cảm tính, càng không nên cực đoan hóa mọi khác biệt nghệ thuật. Một tác phẩm có thể gây tranh luận thì cần được tranh luận đến nơi đến chốn. Một nhận định sai thì phải được chỉ ra bằng chứng cứ. Một sai phạm xuất bản thì phải được xử lý theo quy định pháp luật. Một biểu hiện lệch chuẩn về tư tưởng, đạo lý, lịch sử thì cần được phê bình công khai, thuyết phục, để công chúng hiểu đúng bản chất vấn đề.

Ở đây, vai trò của các cơ quan quản lý, hội nghề nghiệp, nhà xuất bản, cơ quan báo chí, nhà trường và giới phê bình rất quan trọng. Không thể để việc định hướng dư luận chỉ diễn ra sau khi sự việc đã bùng phát trên mạng xã hội. Càng không thể để công chúng đứng trước những vấn đề nhạy cảm mà thiếu hệ quy chiếu học thuật, pháp lý và văn hóa. Phê bình văn học, lý luận văn nghệ cần chủ động hơn, sắc sảo hơn, có khả năng phân tích, giải thích, đối thoại, giúp xã hội phân biệt giữa sáng tạo chân chính và sự tùy tiện; giữa phản biện xây dựng và phủ định cực đoan; giữa nhìn lại lịch sử để hiểu dân tộc sâu sắc hơn và bóp méo lịch sử để làm suy yếu niềm tin dân tộc.

Từ góc độ quản lý nhà nước, các vụ việc vừa qua cũng đặt ra yêu cầu hoàn thiện cơ chế thẩm định, xuất bản, truyền thông và vinh danh trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật. Quy trình lựa chọn, tôn vinh tác phẩm cần minh bạch hơn về tiêu chí; cần bảo đảm sự cân bằng giữa giá trị nghệ thuật, giá trị tư tưởng, tác động xã hội và sự đồng thuận của công chúng. Quy trình biên tập, xuất bản các tác phẩm liên quan đến lãnh tụ, nhân vật lịch sử, chiến tranh cách mạng, biểu tượng quốc gia cần được thực hiện chặt chẽ hơn, với sự tham gia của những chuyên gia đủ năng lực chuyên môn và bản lĩnh chính trị. Kỷ cương trong xuất bản không phải để hạn chế sáng tạo, mà để bảo vệ môi trường sáng tạo lành mạnh, bảo vệ quyền được tiếp nhận thông tin đúng đắn của Nhân dân.

Đất nước ta đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới với yêu cầu rất cao về ý chí quốc gia, tinh thần đoàn kết, khát vọng vươn lên và năng lực kiến tạo tương lai. Chúng ta đang thực hiện những đổi mới lớn về tổ chức bộ máy, quản trị quốc gia, khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, phát triển văn hóa, xây dựng con người Việt Nam. Trong bối cảnh ấy, điều đất nước cần là sự chung sức, đồng lòng, niềm tin và trách nhiệm. Điều đất nước không cần là những tranh luận cực đoan, thiếu căn cứ, lấy việc phán xét quá khứ làm phương tiện gây chia rẽ hiện tại; lấy xúc phạm biểu tượng làm cách gây chú ý; lấy “giải thiêng” thiếu chuẩn mực để phủ nhận công lao, sự hy sinh và những giá trị đã được lịch sử kiểm chứng.

Một dân tộc đã đi qua chiến tranh, mất mát, chia cắt và hy sinh hơn ai hết hiểu giá trị của hòa bình, độc lập, thống nhất. Đằng sau mỗi chiến thắng là máu xương. Đằng sau mỗi biểu tượng là niềm tin. Đằng sau mỗi tên tuổi lớn của dân tộc là cả một di sản tinh thần được Nhân dân gìn giữ. Vì vậy, khi văn chương chạm vào lịch sử, chạm vào lãnh tụ, anh hùng dân tộc, chạm vào những ký ức thiêng liêng, văn chương phải chạm bằng tri thức, bằng tài năng, bằng sự khiêm nhường và bằng lòng tôn kính.

Một nền văn học lớn không né tránh nỗi đau. Nhưng một nền văn học lớn cũng không biến nỗi đau thành lý do để làm suy yếu niềm tin dân tộc. Một nền nghệ thuật hiện đại không sợ những tìm tòi mới. Nhưng cái mới chỉ thực sự có giá trị khi nó làm giàu thêm đời sống tinh thần của con người, chứ không làm nghèo đi đạo lý, ký ức và lòng biết ơn. Một xã hội dân chủ, văn minh cần tôn trọng sự đa dạng trong sáng tạo, nhưng cũng phải có khả năng bảo vệ những giá trị nền tảng đã làm nên bản lĩnh và căn cước của quốc gia.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật vì thế chính là bảo vệ chiều sâu tinh thần của dân tộc. Đó là điều kiện để sáng tạo đi đúng hướng: nhân văn hơn, dân tộc hơn, hiện đại hơn, có trách nhiệm hơn. Khi văn chương biết đứng về phía sự thật lịch sử, đạo lý dân tộc và khát vọng phát triển của đất nước, văn chương không chỉ làm đẹp đời sống tinh thần, mà còn trở thành sức mạnh mềm bảo vệ Tổ quốc từ chiều sâu bền vững nhất của niềm tin.

Chú thích ảnh: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật chính là bảo vệ chiều sâu tinh thần của dân tộc. Nguồn: TT

    Nổi bật
        Mới nhất
        Tự do sáng tạo phải đồng hành với trách nhiệm trước lịch sử
        • Mặc định