Trước phiên thảo luận hội trường về kinh tế - xã hội của Quốc hội:Khơi thông nguồn lực phải song hành kỷ luật thực thi
Trước phiên thảo luận tại hội trường của Quốc hội về tình hình kinh tế - xã hội, TS. LÊ BÁ CHÍ NHÂN, chuyên gia kinh tế, đề xuất cần phát huy các động lực tăng trưởng thực chất; trong đó việc khơi thông nguồn lực phải đi đôi với kỷ luật thực thi, minh bạch và hiệu quả kinh tế.
Làm rõ giải pháp phát huy các động lực tăng trưởng
- Theo chương trình Kỳ họp thứ Hai, ngày 30 - 31/10, Quốc hội sẽ thảo luận ở hội trường về tình hình kinh tế - xã hội, trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2027 từ 10% trở lên đặt ra yêu cầu cao đối với điều hành kinh tế vĩ mô. Ông kỳ vọng gì vào phiên thảo luận này?
- Mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên trong năm 2027, đồng thời kiểm soát CPI bình quân khoảng 4,5%, đòi hỏi phải chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và phối hợp chính sách kinh tế vĩ mô chủ động, linh hoạt.

Tại phiên thảo luận, tôi kỳ vọng các đại biểu làm rõ những giải pháp trọng tâm để phát huy bốn động lực tăng trưởng: đầu tư công dẫn dắt đầu tư tư nhân; tiêu dùng nội địa trở thành điểm tựa của tổng cầu; xuất khẩu chuyển sang các sản phẩm có giá trị gia tăng cao; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số nâng cao năng suất.
Cùng với đó, cần khơi thông nguồn lực đất đai, vốn và tài sản đang bị đình trệ, tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, đẩy nhanh các dự án hạ tầng chiến lược và tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước. Tăng trưởng phải dựa trên năng lực sản xuất thực chất, thay vì phụ thuộc quá mức vào tín dụng hoặc đầu tư theo chiều rộng.
Về điều hành vĩ mô, chính sách tài khóa cần chủ động kích thích tăng trưởng thông qua đẩy nhanh giải ngân đầu tư công, ưu tiên hạ tầng giao thông, năng lượng, logistics và hạ tầng số có sức lan tỏa cao. Chính sách thuế, phí cần hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi sản xuất, đầu tư công nghệ và kích cầu tiêu dùng, đồng thời bảo đảm kỷ luật ngân sách và an toàn nợ công.
Chính sách tiền tệ cần điều hành linh hoạt lãi suất, tín dụng và tỷ giá; ưu tiên vốn cho sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, đồng thời kiểm soát tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro. Cần phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp và thị trường vốn để giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng.
Yếu tố quyết định là phối hợp đồng bộ hai chính sách tài khóa và tiền tệ. Điều hành cần dựa trên dữ liệu, có kịch bản ứng phó với biến động năng lượng, thương mại và dòng vốn quốc tế, đồng thời giám sát chặt các cân đối lớn của nền kinh tế. Tăng trưởng hai con số chỉ thực sự có ý nghĩa khi đi cùng chất lượng tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô.
Đo hiệu quả đầu tư công bằng khả năng huy động vốn tư nhân
- Để đạt mục tiêu tăng trưởng cao, cần sớm khơi thông các nguồn lực. Đến ngày 27/9/2026, theo ghi nhận của Hệ thống cơ sở dữ liệu của Ban Chỉ đạo về giải quyết các dự án tồn đọng (Hệ thống 751), cả nước có 4.846 dự án khó khăn, vướng mắc, với tổng mức đầu tư gần 3,5 triệu tỷ đồng, sử dụng hơn 208.800ha đất; theo ông, cần ưu tiên tháo gỡ những điểm nghẽn nào để đưa các dự án đủ điều kiện vào hoạt động, tạo động lực tăng trưởng?
- Đây không đơn thuần là bài toán thủ tục hành chính, mà là vấn đề về hiệu quả phân bổ nguồn lực và năng lực quản trị nền kinh tế. Dự án đình trệ làm đóng băng vốn, lãng phí đất đai, gia tăng chi phí tài chính, giảm cơ hội kinh doanh và ảnh hưởng đến niềm tin nhà đầu tư. Vì vậy, cần chuyển từ tư duy quản lý dự án tồn đọng sang giải phóng nguồn lực để tạo năng lực sản xuất mới.
Trước hết, cần phân loại rõ các vướng mắc về quy hoạch, đất đai, giao và định giá đất, nghĩa vụ tài chính, đầu tư, xây dựng, môi trường; đồng thời xác định cơ quan chịu trách nhiệm, thời hạn xử lý và cơ chế phối hợp. Những dự án có thể tháo gỡ bằng thủ tục hành chính cần được giải quyết nhanh; các vướng mắc liên quan nhiều luật phải có hướng dẫn thống nhất.
Việc xử lý cũng cần dựa trên mức độ rủi ro và khả năng khắc phục. Với dự án cơ bản tuân thủ pháp luật nhưng vướng thủ tục hoặc thay đổi chính sách, cần có giải pháp phù hợp, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư. Với dự án có sai phạm, phải xác định rõ bản chất, mức độ và hậu quả để xử lý; không để sai phạm có thể khắc phục trở thành lý do đình trệ toàn bộ dự án, nhưng cũng không hợp thức hóa vi phạm hay gây thất thoát tài sản công.
Bên cạnh đó, cần xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất về từng dự án, công khai tiến độ, xác định trách nhiệm người đứng đầu và nâng cao hiệu quả điều phối của các tổ công tác liên ngành. Với dự án đủ điều kiện, cần rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, thực hiện đồng thời các thủ tục có thể song hành theo quy định.
Về dài hạn, cần hoàn thiện cơ chế hậu kiểm, nâng cao trách nhiệm giải trình và bảo vệ cán bộ dám quyết định đúng pháp luật, vì lợi ích chung. Khơi thông nguồn lực phải đi đôi với kỷ luật thực thi, minh bạch và hiệu quả kinh tế.
- Bên cạnh khơi thông nguồn lực tồn đọng, đầu tư công cần phát huy vai trò dẫn dắt để thu hút đầu tư tư nhân. Theo ông, cần cơ chế nào để vốn đầu tư công thực sự trở thành vốn mồi cho đầu tư xã hội, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước?
- Muốn một đồng vốn đầu tư công thu hút thêm nhiều đồng vốn tư nhân, điều quan trọng không phải là tăng chi ngân sách bằng mọi giá, mà là sử dụng vốn nhà nước để giảm chi phí, giảm rủi ro và mở ra cơ hội đầu tư bền vững cho khu vực tư nhân.
Trước hết, cần phân bổ vốn đầu tư công theo hiệu ứng lan tỏa, ưu tiên giao thông liên vùng, cảng biển, logistics, năng lượng và hạ tầng số có khả năng kết nối các trung tâm sản xuất với thị trường. Hiệu quả dự án không chỉ đo bằng tỷ lệ giải ngân, mà còn bằng lượng vốn tư nhân huy động, việc làm tạo ra, chi phí logistics tiết giảm và năng lực sản xuất bổ sung. Vốn ngân sách phải đi trước mở đường, không làm thay những lĩnh vực doanh nghiệp có thể đầu tư hiệu quả.
Đồng thời, cần hoàn thiện cơ chế hợp tác công - tư (PPP) theo hướng chia sẻ rủi ro minh bạch, phân bổ lợi ích hợp lý, công khai phương án tài chính và bảo đảm tính ổn định của chính sách. Với các dự án hạ tầng thiết yếu có thời gian hoàn vốn dài, Nhà nước có thể tham gia hỗ trợ theo quy định, kết hợp đấu thầu cạnh tranh để lựa chọn nhà đầu tư có năng lực. Quy hoạch và thủ tục đất đai cũng cần có tính dự báo để giảm rủi ro thể chế cho nhà đầu tư.
Đối với doanh nghiệp trong nước, cần nâng cao khả năng tiếp cận vốn thông qua các quỹ bảo lãnh tín dụng hiệu quả, mở rộng cho vay dựa trên dòng tiền và phương án kinh doanh khả thi; đồng thời phát triển thị trường vốn để giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng. Chính sách hỗ trợ cần tập trung vào đổi mới công nghệ, tự động hóa, quản trị hiện đại, đào tạo nhân lực và nâng cao tiêu chuẩn sản phẩm.
Bên cạnh đó, cần tăng cường liên kết doanh nghiệp Việt Nam với khu vực FDI và chuỗi giá trị toàn cầu, hỗ trợ doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, truy xuất nguồn gốc, chuyển đổi xanh và nâng tỷ lệ nội địa hóa.
Thước đo của đầu tư công không chỉ là công trình hoàn thành, mà còn là lượng đầu tư xã hội được kích hoạt và năng suất toàn nền kinh tế được nâng lên. Khi thể chế minh bạch, hạ tầng đồng bộ và doanh nghiệp đủ năng lực cạnh tranh, vốn nhà nước mới thực sự trở thành đòn bẩy cho tăng trưởng nhanh và bền vững.
- Xin cảm ơn ông!

