Trong khoảng lùi 50 năm...
Đại hội lần thứ I Hội Nhà văn Việt Nam năm 1957 chỉ với 165 đại biểu tham dự, ngồi gọn trong phòng họp của Câu lạc bộ Đoàn kết khiêm nhường nép bên cánh trái Quảng trường Nhà hát Lớn, nhưng là một đội ngũ xứng danh nhà văn. Đó là những tên tuổi đã có công chuẩn bị và gặt hái một mùa văn chương tuyệt vời vào giai đoạn 1930-1945, mà vẫn còn rất trẻ.
Người nhiều tuổi nhất là Hoàng Ngọc Phách mới ở tuổi 61, còn lại dưới 60 như Tú Mỡ, Nguyễn Công Hoan, Vũ Ngọc Phan; Dưới 50 như Nguyễn Tuân, Hoài Thanh, Nguyễn Huy Tưởng, Xuân Diệu; Dưới 40 như Nguyên Hồng, Huy Cận, Chế Lan Viên, Tô Hoài, Anh Thơ... Những tên tuổi đã thật sự “chín” trong hành trình nghệ thuật của mình trước 1945 và lại có tiếp một hành trình mới đến với nhân dân và cách mạng trong công cuộc giải phóng đất nước qua hai mốc lịch sử 1945 và 1954, để cùng đồng hành với một thế hệ là sản phẩm của chế độ mới như Nguyễn Đình Thi, Chính Hữu, Nguyễn Văn Bổng, Hoàng Trung Thông, Võ Huy Tâm... Tất nhiên, bên cạnh niềm vui lớn của sự họp mặt còn là những vướng ngại làm giảm nhẹ sự hưng phấn. Đó là hậu quả của Cải cách ruộng đất với yêu cầu bức xúc của sự Sửa sai; Là Hiệp định Geneve không thực hiện được do sự chống phá điên cuồng của Mỹ - Diệm; Là cuộc đấu tranh tư tưởng trong và sau vụ Nhân văn - Giai phẩm, trong tình thế khó khăn chung của đất nước và cả thế giới, khi diễn ra Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô lần thứ XX phê phán tệ sùng bái cá nhân Staline và những rạn vỡ trong phe xã hội chủ nghĩa với các cuộc gọi là bạo loạn chính trị ở Ba Lan, Tiệp Khắc, Hungary.
Một Đại hội đã diễn ra trong một tình thế lịch sử như thế, không thể không ghi nhận những dấu ấn đặc biệt của nó. Hội nhà văn ra đời, với cơ quan ngôn luận chính thức là tuần báo Văn do Nguyên Hồng làm Thư ký Tòa soạn. Lại một năm 1957 sóng gió, tiếp sau năm 1956 không yên, với những bài vở trên báo Văn tiếp tục gây nên căng thẳng trong sinh hoạt tư tưởng, thế tất là sẽ đưa tới một số thay đổi về tổ chức và nhân sự của Hội nhà văn sau Đại hội. Chức danh Tổng thư ký của Tô Hoài chuyển sang Nguyễn Đình Thi. Nguyên Hồng thôi làm Thư ký Tòa soạn. Một số người ra khỏi Ban chấp hành, hoặc ra khỏi Hội. Một vài án kỷ luật bị kéo dài...
***
Những mùa màng văn chương đều gắn với việc đáp ứng những yêu cầu lớn của đời sống, những chuyển đổi quan trọng của cách mạng. Điều đó tìm được sự phản ánh qua các Đại hội. Và kể từ Đại hội lần thứ I cho đến nay, sau chẵn 50 năm, giới nhà văn đã qua 7 kỳ Đại hội, trong đó đương nhiên Đại hội đầu tiên, có vị trí một khởi động quan trọng, sau một sinh thành vất vả, tạo nên một sinh lực mới cho một cuộc ra quân, một đường ray lớn cho sự phát triển, đúng vào một chuyển động lớn của đất nước ở mốc lịch sử 1960 - năm mở đầu Kế hoạch 5 năm đầu tiên xây dựng chủ nghĩa xã hội, cũng là năm Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam ra đời. 1960 - đó là thời điểm của sự gặp gỡ giữa Chủ nghĩa yêu nước và Chủ nghĩa xã hội, mà nếu thiếu đi sự gắn kết hữu cơ đó thì hẳn chắc dân tộc khó đến được cái đích Đại thắng mùa xuân 1975.
Nhìn xuyên suốt hành trình lịch sử, sự nghiệp giữ nước và dựng nước luôn luôn là khát vọng lớn của dân tộc; và nhà văn có sứ mệnh nói lên với sức biểu cảm cao nhất khát vọng đó trong văn thơ. Qua các nhiệm kỳ từ khi có Hội, và không phải chờ đến khi có Hội, cho đến bây giờ, văn học luôn luôn là sự dồn tụ những nỗ lực của người viết trên hai tư cách: công dân và nghệ sỹ, dẫu họ có là hội viên hay không. Năm 1957, Hội có hơn 160 hội viên, đến nay là khoảng 1.000 hội viên, không kể số người viết ở các Hội địa phương. Thực ra, trên số dân hơn 80 triệu, con số nghìn hội viên chưa có gì là nhiều. Nhưng điều quan trọng không phải ở số lượng, mà là sức mạnh chung của đội ngũ trong nhất trí và gắn kết giữa lý tưởng sống và viết, bắt nguồn từ thẳm sâu những khát vọng của nhân dân, của dân tộc. Là những mùa màng được gieo trồng và gặt hái bởi một thế hệ chủ lực - ở tuổi sung mãn nhất trong sáng tạo, cùng với sự hợp lực của nhiều thế hệ.
Cái hậu (hoặc triển vọng) của một nền, một thời văn học trước hết được đánh giá ở sự sung sức của những lực lượng trẻ, có sứ mệnh làm nên dòng chủ lưu của văn học. “Con hơn cha” - đó là quy luật. Và cũng là đạo lý, bởi nó là biểu tượng của “nhà có phúc”. Phải có Phan Bội Châu thay cho Nguyễn Đình Chiểu. Có Trần Tuấn Khải thay cho Tú Xương. Có Khái Hưng, Xuân Diệu thay cho Hoàng Ngọc Phách, Tản Đà. Có Nam Cao, Tô Hoài tiếp sức Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng... Thế nhưng, nếu sự thay thế là quy luật của sự phát triển được thể hiện rất rõ trong văn học trước 1945, thì sự bổ sung cho nhau lại là một hiện tượng nổi bật trong văn học sau 1945. Và như vậy, cái hậu của một nền văn học còn là sự đồng hành của nhiều thế hệ, trong đó các thế hệ thuộc lớp trước vẫn tiếp tục những nỗ lực của mình để đến với cái đích chung. Cùng với các thế hệ trẻ, họ vẫn tiếp tục trong khiêm nhường, và lặng lẽ cuộc đi. Bởi cuộc sống luôn luôn rộng chỗ cho mọi tìm tòi và công chúng là đông đảo với nhiều thị hiếu và kiểu loại. Vào đầu thế kỷ XXI này có hai tấm gương lớn khiến cho mọi người viết và bạn đọc chúng ta cùng cảm động và ngưỡng mộ. Đó là nhà thơ Khương Hữu Dụng với những mài miệt bền bỉ, sống trọn vẹn tư cách công dân, và tận cùng phẩm chất nghệ sỹ, cho đến tận ngày qua đời ở tuổi 98 - vào tháng 5.2005. Là nhà văn Tô Hoài, ở tuổi ngót 90 vẫn có cái cho ta ngạc nhiên trong chờ đợi... Đó là hai trong số các đại thụ của làng văn thế kỷ XX, đi qua suốt 7 kỳ Đại hội; không kể lứa tuổi ít hơn là 80 hoặc 70 (chứ không phải chỉ mới vào tuổi 61 như Hoàng Ngọc Phách ở Đại hội I - người được Chủ tịch Hồ Chí Minh tôn là Cụ Hoàng).
Sau 50 năm tuổi Hội, tuổi đời của nhà văn nay đã cao hơn rất nhiều nhưng tôi nghĩ không ai trong giới người viết chúng ta lại không có một khao khát lớn là “trẻ hóa” đội ngũ, và “trẻ hóa” chính bản thân mình, trong một đất nước có 71% số dân ở tuổi 40 và 60% là tuổi 30.
Một dân tộc trẻ với những người viết trẻ.
Những mùa màng lớn trong văn học thế kỷ XX đều được thực hiện bởi các thế hệ trẻ. Và sự chuẩn bị cho những mùa màng mới cũng vẫn phải là thế.
Phong Lê

