Trở lại N. (Phần 1)
Truyện ngắn của Ý Nhi
Khi Thùy đến bến, xe đã rồ máy. Cậu lơ xe đu mình trên cánh cửa, nhảy xuống đất, nhường lối. Thùy với tay nắm lấy thanh sắt tròn chạy dọc theo trần xe. Thanh sắt nóng rực như vừa được lôi ra từ một lò nung. Cậu lơ xe kêu to, tới, rồi quay lại phía Thùy, chị cảm phiền ngồi tạm đây. Lát nữa có người xuống rồi tính. Cậu ta đặt giữa lối đi một chiếc ghế nhựa thấp, ra dấu mời Thùy. Thùy xoay xoay người cho thuận rồi ngồi xuống, đặt chiếc túi nhỏ lên đùi. Người khách bên phải châm thuốc. Cậu lơ xe chồm tới châm nhờ lửa. Cậu ta vừa nhả khói vừa kêu, nóng quá, trời đất chi lạ, giữa mùa mưa mà nóng như rang vầy. Giọng cậu ta lơ lớ, nửa Bắc, nửa Nam, nửa Trung. Cái thứ cocktails ngôn ngữ này bây giờ đi đâu cũng gặp. Hai âm tiết cocktails chợt đến khiến Thùy thấy buồn cười. Cậu lơ xe lại kêu to phía sau lưng, chị có nặng không, đưa chiếc túi tôi treo lên giúp cho. Thùy nghĩ, tay này có lẽ gốc Bắc nhưng vào Nam đã lâu. Ý nghĩ chợt đến lặp lại đúng nguyên văn câu nói của Thuần cách đây ba năm, khi anh gặp Thùy tại thị trấn N. Thùy không biết từ khi nào những nhận xét, những tỏ bày của chị về một việc nào đó, một người nào đó, một cảnh trí nào đó thường là sự lặp lại những lời nói của Thuần. Đã có thời, Thùy thấy cảm động, thậm chí hạnh phúc bởi sự lặp lại, nhiều khi vô thức đó. Giờ đây, chúng lại khiến chị thấy bứt rứt, lo lắng, thậm chí bực bõ với chính mình. Thùy không thể cắt nghĩa vì sao mối tình chóng vánh với Thuần lại như một vết chàm trong tâm trí, ám ảnh cuộc đời mình đến vậy. Ý nghĩ phải một lần quay về N cứ trở đi trở lại nhưng rồi những đợt nghỉ ngắn ngày, dài ngày cứ trôi qua mà chị không sao bứt mình ra khỏi thành phố. Một nỗi lo sợ không rõ ràng đã ngăn cản chị. Có thể chính cuốn phim chị xem vào tối qua là giọt nước làm tràn ly cho một quyết định. Bộ phim có tiêu đề là Ra đi nhưng phần lớn thời gian dành để miêu tả lần trở về quê cũ của một người đàn ông. Người đàn ông rời làng khi còn là một đứa trẻ. Bấy giờ làng quê nhỏ bé của ông nép dưới một vùng núi đá hẻo lánh. Những ngôi nhà gỗ ngày nọ bỗng bị thiêu rụi bởi một ngọn lửa không hiểu từ đâu tới. Cha mẹ và người chị của ông cùng nhiều người khác bị vùi trong tro than. Ông thoát chết vì đang mải mê câu cá ngoài dòng suối nhỏ. Đứa trẻ trở về, tay cầm một xâu cá, đứng chết sững trước đống đổ nát, những con cá rơi xuống, lấm lem tro bụi. Đứa trẻ được một tổ chức từ thiện đưa ra khỏi làng, nuôi dạy tử tế. Đứa trẻ lớn lên, có công việc, có vợ con. Nhưng người vợ nhận thấy có điều gì đó bất ổn nơi người chồng. Thỉnh thoảng ông lại mơ thấy lửa, thấy bị thiêu cháy và thức dậy giữa đêm, ngồi lặng im trong bóng tối. Ngày sau đó ông thường tỏ ra mỏi mệt, lơ đãng. Bà quyết định đưa chồng trở lại quê nhà. Quê nhà của họ giờ đây là một khu liên hợp chế biến gỗ, không một ai biết về ngôi làng, về vụ cháy khủng khiếp năm xưa. Người đàn ông cùng vợ ra đứng bên dòng suối hồi lâu rồi trở lại thành phố. Ngồi sau tay lái, ông dõi mắt nhìn con đường trải dài trước mặt hồi lâu, rồi quay sang người vợ, nói rất nhỏ, nếu không trở về, người ta không thể thanh thản ra đi. Chính câu nói đó đã lôi chị ra khỏi trạng thái lửng lơ, do dự của nhiều ngày tháng. Thùy đứng bật dậy, sửa soạn đồ đoàn cho chuyến trở lại N.
![]() Minh họa của Thúy Hằng |
N là một thị trấn nhỏ ven biển. Toàn bộ công sở, cửa hàng, quán xá nằm dọc theo con lộ chính. Những ngôi nhà dân nằm rải rác trên các đường ngang nhỏ hẹp nối liền tỉnh lộ và bờ biển. N là quê Ân, cô bạn thân nhất của Thùy trong mấy năm theo học tại cao đẳng sư phạm. Thùy theo bạn về đây, tự thưởng cho mình một kỳ nghỉ trước khi nhận việc tại một trường trung học cơ sở ở ngoại vi thành phố.
Là con gái út trong một gia đình tương đối khá giả, Ân rất được cha mẹ chiều chuộng. Cả ngày, hai cô chỉ tha thẩn đi dạo, tắm biển, phơi nắng, ăn ghẹ, ăn mực, uống nước dừa.
Một chiều nọ, khi hai cô đang ngồi chơi ở hàng nước đầu phố thì thấy một tốp người bước vào.
Ba nam, hai nữ. Họ gọi nước. Hai cô gái mặc quần Jean, áo thun, tóc cắt ngắn. Trông họ linh hoạt, tươi tắn. Cô không đeo kính có đôi mắt đen, sâu. Hai trong ba người đàn ông tóc đã bạc, người còn lại trạc ba mươi, khá cao. Người này vừa nhận ly nước vừa quay lại nhìn Thùy và Ân, xin lỗi hai chị, các chị có phải là người ở đây không. Hầu như cùng một lúc, Thùy bảo không, còn Ân thì nói to, dạ phải. Cả bàn bên phá lên cười, cô đeo kính suýt sặc nước. Anh ta ghìm trận cười trước tiên, nghiêm mặt như thầy hỏi học trò, vậy ai nói thật ai nói dối đây. Ân đáp, cả hai đều nói thật. Em là người ở đây. Thùy là bạn em, quê Thùy ở xa lắm. Anh ta lấy ngón giữa đẩy chiếc kính gọng bạc lên, giọng đạo mạo, ra thế. Các cô cho chúng tôi làm quen nhé. Chúng tôi nghiên cứu ngôn ngữ. Chúng tôi đến đây để ghi âm giọng nói của người ven biển này. Cô Ân có thể đưa giúp chúng tôi đến ủy ban xã được không. Vốn là người nhiệt thành, Ân đứng lên, tay cầm ly, tay cầm ghế, bảo Thùy, sang nhập bọn với các anh các chị ấy cho vui. Cô mắt đen cười cười, mình là Hoài, bạn đeo kính này là Hiền, anh tóc bạc là Trác, anh tóc muối tiêu là Trung. Còn anh đẹp trai, con nhà giàu, học giỏi này là Thuần. Bọn mình sẽ ở đây một tháng. Thùy cười, tiếc nhỉ, hai ngày nữa tôi phải về thành phố rồi. Thuần lại đưa ngón tay nâng gọng kính, nói chậm rãi, quả quyết, cô Thùy người gốc Bắc nhưng vào Nam đã lâu, đúng không.
Sai, sai hoàn toàn. Gia đình Thùy đã sống không biết bao nhiêu đời ở vùng đất đỏ Đông Nam bộ. Tự nhiên Thùy thấy thương anh ta, cô đáp khẽ như đùa, you’re wrong. Thùy có cảm giác, trong một ngôn ngữ khác, mọi điều sẽ dễ chịu hơn. Cả bàn lại phá lên cười. Lần này, ông Trác làm đổ ly, nước tràn qua bàn, thấm vào mặt cát, kêu to, nhà ngữ âm học ơi là nhà ngữ âm học. Thuần hơi đỏ mặt nhưng giọng vẫn thản nhiên, làm khoa học, phán đoán nhầm là sự thường mà.
Thùy về thành phố hai tuần thì gặp lại Thuần. Anh đi tìm mua máy móc gì đó cho đoàn khảo sát. Một buổi chiều lang thang cùng nhau giữa thành phố rộng lớn, náo nhiệt, họ đã trở nên thân thiết. Một lần hẹn gặp. Rồi những lần gặp gỡ sau đó, những ly cà phê trong quán khuya, những bản nhạc cổ điển tinh tế, những câu đùa dí dỏm, những mẩu chuyện thâm thúy của Thuần, khiến Thùy tin rằng đây chính là một tình yêu định mệnh. Thùy nhớ, mẹ chị có lần nói rằng, tử vi của chị là phải lấy chồng xa. Hồi đó, Thùy nghĩ, xa nhất là ở xóm trên, nơi Thùy có một cậu bạn học điển trai, chuyên chép bài hộ mỗi khi Thùy bệnh, chuyên bênh vực Thùy mỗi khi Thùy bị ăn hiếp. Cậu bạn đã theo cha mẹ đi đến nơi nào đó. Thùy kể cho Thuần nghe câu chuyện. Thuần bảo, đó không phải là một tình yêu. Thuần hứa sẽ đưa Thùy về Bắc, miền quê có ngôi đền thiêng, có dòng sông nước đỏ, có những bờ đê xanh thắm và có mẹ anh, người yêu thương anh hơn tất thảy mọi điều. Nhưng chuyến đi không thành. Thuần đã cưới một cô bạn học từ thời sinh viên. Trong bức thư sau cùng, Thuần nói rằng mẹ anh không muốn anh lấy vợ ở một vùng quê mà bà không biết.
Thùy nhớ, chị thật bình tĩnh khi đọc bức thư khá dài của Thuần nhưng lại khóc vì mấy câu thơ của một nhà thơ chưa thành danh mà chị tình cờ nhìn thấy trên tờ báo gói hàng: Trên bức tường mỏi mệt/ Tôi treo chiếc bóng của mình/ Trong im lặng/ Trong cỏ và mặt trời/ Trong tiếng động/ Tôi chỉ còn tôi/ Với ánh sáng niềm vui lãnh đạm/ Với tiếng đàn của một cây đàn không dây. Vì “bức tường bị treo lên”, vì “tiếng đàn của một cây đàn không dây” vì “niềm vui lãnh đạm” hay vì “tôi chỉ còn tôi”… Thùy không thật hiểu, không thể giải thích nguyên cớ thực sự của cơn xúc động không thể kìm giữ do bài thơ gây nên. Thùy gấp tờ báo, vuốt cho phẳng phiu rồi đem cất vào ngăn kéo, nơi có mấy bức thư, hai chiếc thiếp Tết vẽ hoa đào, chiếc hộp nhựa với hai cây bút còn mới nguyên và vài món quà nhỏ khác của Thuần.
Ân biết chuyện, bắt xe đò vào thành phố, xộc tới nhà giữa lúc Thùy đang ngồi trước bàn, nhìn ngắm tượng chú Tễu bằng gỗ mít miệng cười mãn nguyện. Ân với tay lấy bức tượng, gầm gừ, quà của tay Thuần hả. Quà với chả cáp. Vứt đi. Thùy giằng lại từ tay bạn, cậu nóng quá, bức tượng thì có tội gì, mà nghĩ cho cùng thì Thuần cũng chẳng có tội gì. Anh ấy là con một, phải vâng lời mẹ thôi. Ân bảo, đến điên lên với cậu. Hắn nói vớ nói vẩn mà cậu cũng tin được. Cậu vào chùa luôn đi. Nói vậy nhưng Ân liên tục giới thiệu hết người này đến người khác cho bạn. Thùy gặp gỡ, trò chuyện, đi xem phim, đi nghe ca nhạc cùng họ vài lần rồi dừng lại. Ân không hiểu, tại sao cứ phải là cái tay bẻm mép đó. Tại sao cậu không chấp nhận một thực tế là hắn đã cao chạy xa bay rồi. Thùy không thể trả lời những tại sao của Ân, bởi chính Thùy cũng không hiểu tại sao chỉ vài ba lần gặp gỡ với những câu chuyện không đầu không cuối, với những lời hò hẹn mơ hồ, Thuần lại có thể khiến chị nặng lòng đến vậy. Thùy đâm ra ngại gặp Ân, sợ phải nghe bạn căn vặn, răn đe, dặn dò. Rồi Ân lấy chồng, sinh con, bận bịu với gia đình nhỏ của mình. Mối liên hệ giữa họ dần lỏng lẻo, xa cách. Dù vậy, khi nghe tin Ân rời khỏi thị trấn, Thùy thấy buồn như thể chính mình phải rời xa một nơi chốn thân thuộc vậy. Thùy thở dài, một N không có Thuần, rồi một N không có Ân. Liệu có còn là N nữa không. Dù vậy, hay chính vì vậy, Thùy rất muốn một lần quay lại.
Thùy dành hai ngày cho chuyến đi.
Xe chạy khá nhanh. Con đường trước mặt như bị cuốn vào gầm xe. Mọi người trên xe đã say ngủ. Cậu lơ xe cũng lơ mơ, gà gật trong tiếng động cơ rù rù êm nhẹ. Thùy bảo người tài xế mở nhạc nghe cho đỡ buồn. Anh ta ậm ừ, khoắng tay vào ngăn kéo, nơi chỉ có mấy cuộn băng cũ kỹ, trầy sướt rồi lấy đại ra một cái, đặt vào ổ máy. “It’s never too late”, một giọng nam ấm áp vang lên, gần như cùng lúc với tiếng phanh xe kin kít trên mặt đường. Cậu lơ xe sực tỉnh, không hiểu bởi tiếng hát hay tiếng phanh. Cậu ta dụi mắt, nhảy ào ra ngoài, kêu to, chết cha tôi rồi. Giữa đồng không mông quạnh, núi đồi heo hút thế này.
Bốn tiếng đồng hồ trôi qua. Hai thầy trò người tài xế chui rúc dưới gầm xe, chân tay, mặt mũi lấm lem dầu mỡ, máy vẫn không nổ.
Vài hành khách đã đem đồ ăn, thức uống bày ra mặt đường, chuẩn bị vào bữa ăn chiều, cho một đêm ngủ lại dọc đường. Một số khác lặn lội vào tận trong xóm mua gạo thổi cơm, tìm chỗ trọ.
Thùy ngồi bó gối bên vệ đường, lặng lẽ theo dõi công việc của người tài xế. Nếu đêm nay xe không chạy, sáng mai chị buộc phải đón xe giữa đường trở về thành phố vì ngày sau đó đã phải trình diện ở chỗ làm việc mới.
Cậu lơ xe ló mặt ra khỏi gầm xe, sao chị còn ngồi đây. Thùy không đáp, nước mắt tự nhiên chảy ròng ròng, không sao giữ được. Cuộn băng trong buồng lái không biết đã tua bao nhiêu lần, vẫn giọng nam ấm áp: “It’s never too late”. Không bao giờ là quá muộn. Thùy nghe như có một chút giễu cợt trong giọng hát.
(Số sau đăng hết)


