Trở lại châu Á - nhất thời hay bền vững?

Diệu Minh 29/05/2012 07:29

Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton từng phá vỡ truyền thống khi chọn châu Á là điểm đến cho chuyến công du đầu tiên ra nước ngoài trên cương vị người đứng đầu ngành ngoại giao Mỹ. Trong chuyến công du lần thứ 7 mới đây tới châu Á, bà Clinton một lần nữa khẳng định tương lai của Mỹ gắn kết chặt chẽ với tương lai của châu Á - Thái Bình Dương.

Sự trở lại châu Á mang tính chiến lược của Mỹ được đánh giá là phù hợp với những nỗ lực nhằm đảm bảo và củng cố sự lãnh đạo toàn cầu của Mỹ trong thế kỷ này. Do vị trí địa lý có một không hai mà Mỹ đồng thời là cường quốc ở cả Đại Tây Dương và Thái Bình Dương. Trong thế kỷ trước, sự hợp tác với châu Âu - Đại Tây Dương đã mang lại nhiều lợi ích cho nước Mỹ, và giờ đây, Washington cũng muốn xây dựng mạng lưới hợp tác tương tự trong toàn vùng Thái Bình Dương.

Một trong những lý do chính khiến Mỹ chuyển hướng chính sách đối ngoại sang châu Á là sự khan hiếm nguồn lực trong kỷ nguyên cắt giảm chi tiêu hiện nay. Mỹ nhận thấy cần phải đầu tư vào nơi nào đem lại lợi ích lớn nhất, và do vậy châu Á - Thái Bình Dương chính là cơ hội trong thế kỷ XXI đối với Mỹ.

Trước việc Mỹ chuyển trọng tâm chiến lược sang châu Á - Thái Bình Dương, các nước trong vùng nhìn chung có những phản ứng khác nhau dựa trên mối quan tâm riêng của mỗi nước. Sự khác biệt về lập trường và thái độ thể hiện theo từng vùng, giữa một bên là các nước Đông - Bắc Á cộng với Ấn Độ và bên kia là các nước thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Riêng Trung Quốc, vốn được giới quan sát cho là muốn bác bỏ kế hoạch của Mỹ, gần đây cũng có lập trường ít đối kháng hơn.

Thái độ của các nước châu Á đối với việc Mỹ thông báo thiết lập căn cứ lính thủy đánh bộ tại Darwin, Australia, là bằng chứng cho thấy những khác biệt trên. Các đồng minh gần gũi như Nhật Bản hoàn toàn ủng hộ quyết định này. Ấn Độ, nước đang xích lại gần phương Tây, cũng hoan nghênh kế hoạch của Mỹ. Nhưng nhìn chung nhiều nước phản ứng một cách thận trọng. Indonesia, Malaysia nhắc đến “cái vòng luẩn quẩn căng thẳng và bầu không khí nghi ngại”. Ngay cả Singapore, nước có đường lối tổng thể thiên về đánh giá sức mạnh của Mỹ là yếu tố giữ ổn định trong khu vực, cũng tỏ ý lo ngại ASEAN sẽ bị kẹt trong gọng kìm cạnh tranh lợi ích giữa các cường quốc trong khu vực.

Quyết định của Mỹ chuyển trọng tâm sang châu Á không cho phép nói trước liệu mối quan hệ giữa Washington với tất cả các đối tác châu Á sẽ tốt hay không. Có một thực tế là tất cả các nước châu Á đều muốn duy trì quan hệ tốt với Trung Quốc (thường vì lợi ích kinh tế), đồng thời hy vọng có thể trông cậy vào sự đảm bảo an ninh của Mỹ. Do đó, khi Mỹ vừa tái khẳng định can dự vào châu Á -Thái Bình Dương, Thủ tướng Nhật Bản Yoshihiko Noda và Tổng thống Hàn Quốc Lee Myung-bak đã sang thăm chính thức Trung Quốc. Trong khi đó, cuối năm 2011, Thái Lan đã tiếp đón Phó chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, còn Myanmar đón tiếp Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc Đới Bỉnh Quốc, nhân vật phụ trách công tác đối ngoại chiến lược của Trung Quốc.

Khu vực châu Á- Thái Bình Dương có tầm quan trọng sống còn đối với sự năng động của toàn cầu, song mọi thứ còn phụ thuộc vào sự lựa chọn chiến lược của các nước châu Á. Nhìn chung, các quốc gia châu Á không muốn thấy Mỹ và Trung Quốc đối đầu với nhau mà muốn chứng kiến mối quan hệ hữu hảo giữa hai cường quốc này cũng như sự hiện diện mạnh mẽ của Mỹ tại khu vực. Về phía Mỹ, Nhà Trắng có hai mối lo ngại lớn: thứ nhất là nguy cơ căng thẳng kéo dài trong quan hệ với Trung Quốc với hệ quả xấu nhất là sự đối đầu quân sự không kiểm soát được, và thứ hai là câu hỏi về khả năng trụ vững lâu dài của Mỹ trong kỷ nguyên cắt giảm ngân sách như hiện nay.

Trong bài viết đăng trên tạp chí “Foreign Policy” hồi tháng 10.2011, Ngoại trưởng Mỹ Clinton tuyên bố Mỹ giờ đây sẽ chuyển hướng từ hai cuộc chiến tại Tây Nam Á (Iraq và Afghanistan) sang “trọng tâm châu Á”. Nhiều ý kiến cho rằng với khái niệm mới này, chính quyền của Tổng thống Obama đã định hình một tầm nhìn chính sách đối ngoại (của Mỹ) cho thế kỷ XXI. Trên thực tế, sự tập trung tăng cường của Mỹ vào châu Á là quyết định lưỡng đảng và bền vững. Những giá trị của việc gia tăng sự tập trung vào châu Á là rõ ràng. Mỹ đã từng và đang tự coi mình là một cường quốc ở Thái Bình Dương kể từ khi chiếc tàu “Nữ hoàng Trung Hoa” căng buồm tới Quảng Châu vào năm mà Cách mạng Mỹ kết thúc. Trong thế kỷ XX, mối đe dọa Đức và sau đó là sự mở rộng của Liên Xô đã khiến các tổng thống Woodrow Wilson, Franklin Roosevelt và phần lớn các tổng thống thời Chiến tranh lạnh phải theo đuổi chính sách “Ưu tiên châu Âu trước nhất”. Sang đầu thế kỷ XXI, sự kiện 11.9.2001 đã khiến Mỹ chuyển hướng tập trung vào cuộc chiến chống khủng bố ở Iraq và Afghanistan. Giờ đây, với sự trỗi dậy của sức sống kinh tế ở châu Á, việc chính quyền hiện nay và chính quyền kế tiếp, dù là phe Cộng hòa hay Dân chủ, khôi phục sự tập trung vào châu Á là điều hợp lý.

Chuyến công du châu Á hồi tháng 11.2011 của Tổng thống Obama và hình ảnh Mỹ chủ trì Hội nghị APEC tại Hawaii, công bố căn cứ mới tại Bắc Australia, và sau đó tham dự Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á phần nào được coi là bước tiến mạnh trong việc tái can dự của Mỹ vào khu vực châu Á - Thái Bình Dương một cách vững chắc thời hậu Chiến tranh lạnh. Ngoại trưởng Clinton từng tuyên bố Mỹ sẽ tiến lên phía trước để đánh dấu sự dấn thân ở châu Á - Thái Bình Dương cho 60 năm tiếp theo, dựa trên những di sản chính trị mà hai đảng Dân chủ và Cộng hòa đã gây dựng, giúp định hình con đường mà Mỹ đã can dự 60 năm qua.

Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long cũng cho rằng sự can dự của Mỹ vào châu Á mang tính lịch sử, và các nước châu Á hy vọng sự trở lại của Mỹ sẽ mang tính lâu dài.

    Trở lại châu Á - nhất thời hay bền vững?
    • Mặc định