Tổ chức khoa học, công nghệ chậm thực hiện tự chủ vì đâu?
Sau 7 năm triển khai Nghị định 115 của Chính phủ, hiện chỉ có 46% tổ chức khoa học, công nghệ chuyển sang hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Nhiều bộ, ngành, địa phương phê duyệt Đề án tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho tổ chức chỉ để đối phó. Sự chậm trễ này không phải chỉ do phạm vi đổi mới quá lớn, mà ngay cán bộ lãnh đạo, cán bộ nghiên cứu cũng không có động lực thực hiện, vì còn tâm lý ỷ lại vào bao cấp của Nhà nước.
Nghị định 115 của Chính phủ về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học, công nghệ được ban hành đã đáp ứng mong mỏi của các nhà khoa học trong thời điểm đó. Bởi theo văn bản này, các tổ chức khoa học, công nghệ công lập sẽ được tự chủ về thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ, tài chính, quản lý tổ chức, cán bộ, hợp tác quốc tế. Như vậy, tổ chức khoa học, công nghệ sẽ không bị lệ thuộc vào khung biên chế, có thể chủ động tuyển dụng, thu hút những cá nhân có năng lực vào làm việc. Sự tự chủ về thực hiện nhiệm vụ sẽ thúc đẩy các tổ chức này thay đổi phương thức quản lý, phương thức hoạt động để có công trình nghiên cứu có tính ứng dụng cao. Sự tự chủ về tài chính là nút thắt quan trọng để các tổ chức này có thể tự huy động kinh phí, thay vì trông chờ vào bầu sữa ngân sách Nhà nước. Và các nhà khoa học và tổ chức nghiên cứu được trao quyền tự chủ cũng đồng nghĩa với việc quản lý Nhà nước trở sẽ không phải đi theo những chương trình, dự án, mà chuyển sang xây dựng chính sách cho ngành, lĩnh vực.
Tuy nhiên, tác động của Nghị định 115 đến đổi mới phương thức quản lý, phương thức hoạt động của các tổ chức khoa học, công nghệ ở nước ta không được như kỳ vọng. Theo đại diện Bộ Khoa học và Công nghệ, tính đến hết tháng 6.2012, đã có 267/585 tổ chức khoa học, công nghệ công lập (tỷ lệ 46%) hoàn thành chuyển đổi mô hình hoạt động theo Nghị định 115. 160 tổ chức thuộc các bộ, ngành và 158 tổ chức thuộc các địa phương đang xây dựng và trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt đề án chuyển đổi. Một cơ chế từng được cho là sẽ tạo đột phá trong quản lý hoạt động này nhưng lại có kết quả khiêm tốn khiến nhiều chuyên gia tham dự Hội thảo Đổi mới tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động khoa học và công nghệ băn khoăn. Song có thể thấy, tiến độ triển khai thực hiện cơ chế tự chủ còn chậm là vì nhiều bộ, ngành, địa phương chưa chỉ đạo quyết liệt với các tổ chức khoa học, công nghệ. Trong khi đó, không ít những đơn vị này còn ngại chuyển sang hoạt động theo cơ chế tự chủ vì sẽ bị cắt tiền lương, chi phí hoạt động bộ máy. Và các bộ, ngành, cơ quan chủ quản cũng có tư tưởng e ngại giao quyền tự chủ khi phân cấp quản lý cho các tổ chức khoa học, công nghệ.
Tổ chức khoa học, công nghệ còn ngần ngại áp dụng cơ chế tự chủ cũng do tiềm lực về nhân lực, tài chính, cơ sở vật chất còn hạn chế. Năng lực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ còn yếu nên không có nhiều sản phẩm được thương mại hóa, phải phụ thuộc vào kinh phí được ngân sách nhà nước cấp hàng năm. Vì thế, nếu các đơn vị này phải chuyển sang tự chủ tài chính thì sẽ khó duy trì được hoạt động. Điều này khiến nhiều bộ, ngành, địa phương chỉ phê duyệt Đề án thực hiện cơ chế tự chủ để đối phó. Thực tế, tổ chức khoa học, công nghệ này chưa được giao quyền tự chủ thực sự về nhiệm vụ, tài chính, nhân lực khoa học, công nghệ và hợp tác quốc tế. Hay nói cách khác là quy định về đổi mới cơ chế tổ chức và quản lý hoạt động khoa học, công nghệ chưa đi vào thực tế cuộc sống.
Dự toán ngân sách nhà nước hàng năm đã dành 2% đầu tư cho khoa học, công nghệ, song mức đầu tư này mới chiếm 0,5% GDP. Điều đó có nghĩa là tỷ lệ đầu tư có thể cao về tỷ lệ nhưng con số tuyệt đối vẫn còn thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới, chưa đáp ứng được nhu cầu của công tác nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, theo Ts, Viện trưởng Viện Chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam Đặng Kim Sơn, lượng kinh phí này so với năng lực tài chính còn hạn chế của nước ta thì việc đầu tư đã thể hiện sự ưu tiên của Nhà nước cho các nhiệm vụ khoa học, công nghệ. Vấn đề là liệu lượng kinh phí này đã được khai thác và sử dụng hiệu quả hay chưa? Ts Đặng Kim Sơn cho rằng, yếu tố cản trở lớn nhất cho hoạt động của các cơ quan khoa học, công nghệ công lập hiện nay không phải kinh phí hay cơ sở vật chất, mà là thiếu động lực cho đội ngũ cán bộ. Vì thế, cán bộ nghiên cứu không coi mình là chủ nhân của tổ chức khoa học, công nghệ; đồng thời, không coi người sản xuất, kinh doanh là khách hàng, khoa học, công nghệ là hàng hóa.
Cán bộ nghiên cứu khoa học chưa có động lực làm việc là do Nghị định 115 hay Nghị định 80 về doanh nghiệp khoa học, công nghệ, Nghị định 96 và các văn bản hướng dẫn thực hiện cơ chế tự chủ chưa đồng bộ và chưa hài hòa với các văn bản quy phạm pháp luật, các quy định nội bộ của ngành, địa phương. Thực tế, Nghị định 115 cho phép thủ trưởng tổ chức quyết định nâng lương trước thời hạn, tuyển dụng, bổ nhiệm... nhưng những việc này vẫn do lãnh đạo bộ, ngành, địa phương quyết định. Hay như Nghị định 115 và Nghị định 96 quy định, các tổ chức khoa học, công nghệ được góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất. Song, theo quy định của Luật Đất đai thì nếu các tổ chức này được giao đất không thu tiền sử dụng đất thì sẽ không được góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất để sản xuất, kinh doanh.
Giao quyền tự chủ cho tổ chức khoa học, công nghệ là động lực cho việc nâng cao hiệu quả, chất lượng hoạt động của các đơn vị này, cũng như tăng mức đóng góp của khoa học, công nghệ vào phát triển kinh tế - xã hội nói chung. Vì thế, sự trì trệ trong thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm với tổ chức khoa học, công nghệ cần sớm thay đổi. Nhưng để tạo sự thay đổi thì thiết nghĩ không chỉ bằng sửa đổi để bảo đảm sự đồng bộ giữa các chính sách, văn bản luật. Điều quan trọng là phải nâng cao ý thức trách nhiệm của cán bộ lãnh đạo, cán bộ nghiên cứu. Bởi tư tưởng ỷ lại vào bao cấp của Nhà nước của một số đơn vị khoa học, công nghệ và cán bộ nghiên cứu là rào cản cao nhất, khó vượt qua nhất.

