Tình yêu sau chiến tranh
Tôi lấy đầu đề một tập sách đặt tên cho bài viết. Đây là tuyển tập giới thiệu truyện ngắn của 45 nhà văn Việt Nam viết về tình yêu. Sách do nhà văn Hồ Anh Thái và nhà văn Wayne Karlin tuyển chọn. Khi Love after War in ra - năm 2002, báo San Francisco Chronicle bầu là một trong 100 cuốn sách hay nhất của năm.
![]() Tuyển tập Tình yêu sau chiến tranh, NXB Curbstone Press, 2002 |
Những ngày đầu chiến tranh ấy tôi nghĩ tới người Mỹ một cách quái dị. Không thể là những người bình thường. Một buổi sáng đóng quân trên đường 15. Cậu bạn cùng đơn vị gọi tôi rồi chỉ lên trời. Trên độ cao, rất cao, một cái máy bay tiếp xăng - cậu bạn nói vậy - có cái vòi bên thân đang đứng im một lúc rồi bay chậm. Xung quanh nó là những chiếc máy bay loại máy bay chở hàng, cũng bay rất chậm. Ngày hôm nay không ai ngạc nhiên với các loại máy móc kỳ quái trong phim hoạt hình trong các trò chơi điện tử. Nhưng ngày đó lũ trẻ nhà quê như tôi đứng sững kinh ngạc sợ toát mồ hôi. Người Mỹ có rất nhiều thứ vũ khí chỉ cần nhìn thấy là đủ sức khủng bố tinh thần. Họ có cách khủng bố người dân ở một đất nước nghèo đến điện còn chưa đủ dùng. Kiểu khủng bố bằng màn trình diễn cái máy bay tiếp xăng như con quái vật kia ám ảnh tôi đến tận bây giờ. Khi bay trên các cánh rừng phi công Mỹ thả phanh cho máy bay gào rú, tiếng động của nó có thể bật tung các quả núi có thể dạt cả một rừng cây. Từ 1965 đến 1968, vùng đất từ Thanh Hóa đến Quảng Trị như đất mặt trăng. Tuổi trẻ của tôi đã qua nhiều địa danh vùng đất ấy. Lính công binh, lính làm đường, phải chuyển rất nhiều nơi. Người ta quen dần với chiến tranh. Sức chịu đựng có lẽ còn dùng được nhiều năm nữa.
Tôi không hề có chút cảm tình nào với người Mỹ. Dạo đó còn ít tuổi cứ tưởng mặt mũi một gã phi công bay suốt ngày thả bom tung hoành trên mặt đất chắc phải dị hình dị tướng. Độc ác vô cảm không thương xót ai. Đó là người Mỹ.
Mọi chuyện cải thiện dần sau chiến tranh. Nhìn đối phương khác đi là tâm thế của mọi người, kể cả những người đã mất tất cả trong chiến tranh. Nhưng tôi vẫn không thể hình dung thế nào là người Mỹ trong đời sống bình thường của họ... Vào đầu năm 1990, có nhiều người làm khoa học, làm kinh tế đi tới Mỹ. Năm 1993 tôi trong đoàn nhà văn tới Trung tâm William Joiner, trước đó đã có các anh Lê Lựu, Nguyễn Khải, Nguyễn Quang Sáng. Nhưng nhìn chung Việt cộng đến Mỹ vẫn hiếm. Vẫn thường được đám đông “bà con” săn sóc chú ý khá huyên náo chứ không bình thường như ngày hôm nay.
Trung tâm William Joiner ngày ấy còn nghèo. Chúng tôi đến ở trong nhà của Kevin Bowen tại Dorchester ở Boston. Các cựu chiến binh Mỹ được Trung tâm tập hợp đón. Tất cả đến ở lại nhà của Kevin. Tôi nhìn vào một gia đình Mỹ. Hai vợ chồng Kevin theo đạo Phật. Họ có bàn thờ Phật. Nhà cửa gọn gàng sạch sẽ. Đứa con gái nhỏ của họ mới hai tháng tuổi khóc ọ ẹ trên phòng, tiếng khóc của nó truyền vào cái máy nhỏ và vợ Kevin chạy nhẹ lên gác dỗ con. Cậu con trai hai tuổi lười ăn, buổi sáng nó ngán ngẩm nhìn cái bát đựng sữa và ngũ cốc, phải động viên tích cực để nó ăn. Buổi đầu mọi người họp mặt uống bia. Vỏ chai bia chất trên bàn. Tôi nghĩ Mỹ phải khác Việt Nam chứ, và đi dọn đống vỏ bia cho vào túi rác. Nhưng chị Kevin lấy lại, cho một túi khác, nói rằng để người ta tái chế. Chúng tôi làm nem làm nộm kiểu Việt Nam mời những người Mỹ đến nhà... Căn nhà của vợ chồng Kevin chứa hàng chục người trong gần cả tháng. Ồn ào nhộn nhịp những buổi tranh luận hát hò gặp gỡ người nơi khác tới... Nhưng hai vợ chồng, như những Phật tử thực thụ, hiền hậu dễ thương, tiếp đón tất cả với vẻ dịu dàng chân thực. Người Việt Nam ta cũng khó có được lòng tốt đó. Kevin đã tham chiến ở Việt Nam. Ông ít khi nhắc lại thời gian ở Việt Nam. Nhưng trong đời sống hàng ngày trong những cử chỉ săn sóc ân cần dành cho chúng tôi ông như nói: tôi xin lỗi. Sau chúng tôi có hàng chục đoàn nhà văn Việt Nam tới ở nhà Kevin. Khỏi phải nói vợ chồng họ đã phải chịu đựng những gì, lối sống khá tự do của nhà văn ta, với quên giật vòi nước, với thuốc lào, với ho hen, với cãi vã nội bộ... Không phải là tất cả nhưng đã có tất cả cái đó. Hơn hai mươi năm Kevin đã trên tuổi sáu mươi, cô bé và cậu bé khi chúng tôi đến Boston năm 1993 đã là những thanh niên khỏe mạnh. Tôi đã có thêm những người bạn Mỹ và với việc làm cho Việt Nam của họ hình ảnh những người Mỹ bớt hẳn những nét “kinh dị” trong mắt mọi người dù nhiều khi đi tới những nơi với đầy “dấu tích chiến tranh” tôi vẫn nghĩ: người Mỹ, sao lại có thể như thế?
![]() Ra mắt sách ở San Jose, 1995. Từ trái sang: Wayne Karlin, Lê Minh Khuê, Hồ Anh Thái, George Evans |
Đó là Wayne Karlin. Năm 1965 đi lính sang làm lính bảo vệ tại một căn cứ trực thăng ở Quảng Ngãi. Gia đình họ hàng của ông bị Đức giết sạch trong chiến tranh ở Ba Lan. Ông nhạy cảm thế nào với những nỗi đau chiến tranh gây ra? Ông đi vào một làng ở gần căn cứ trực thăng, thấy ngoài bom đạn Việt Nam còn chịu sự tha hóa của làn sóng lính Mỹ đem tới tàn phá văn hóa bản địa. Ông thường khóc khi trò chuyện với chúng tôi. Sau khi làm lính bảo vệ, ông chuyển sang giữ súng máy trên trực thăng, được lệnh bắn vào tất cả cái gì động đậy. Tôi biết rõ những loại máy bay này và vô cùng sợ trực thăng. Nó không chỉ là cái trực thăng, nó là cái chết tức thời, nó có thể sà xuống bốc người dưới đất lên, đưa tới một nơi khủng khiếp nào đó. Trong một buổi uống trà tôi gườm gườm nhìn gã bắn súng máy trên trực thăng với ác cảm không thể giấu. Mãi sau khi biết tôi đã từng làm việc trên đường mòn Wayne Karlin khóc. Đôi mắt xanh đẫm nước suốt thời gian tôi gặp ông ở Boston.
Wayne Karlin là nhà văn dành phần lớn đề tài tiểu thuyết cho chiến tranh Việt Nam. Những tiểu thuyết Tiếng đờn và bia đá, Đường cắt, Những đội quân đã mất, Vai phụ, Cho chúng ta, Những người tù… có nhiều câu chuyện về Việt Nam.
Ông biên soạn bộ sách Phía bên kia góc trời cùng với anh Trương Vũ và tôi. Năm 1995 tôi cùng Hồ Anh Thái và hai ông nhà văn đã tới Ohio, Minnesota, Miami... có khi ở trong nhà của một gia đình Mỹ. Ở Miami khi cha mẹ những đứa trẻ lái xe đến nơi chúng tôi giới thiệu sách, người cha còn quay lại:
- Nhớ đừng xem ti vi. Lũ trẻ nghe lời. Người cha nói: dặn như vậy để chúng nó dành thời gian cho bài tập. Ở Mỹ trẻ con sẽ không “năng động” như trẻ ở ta. Ở đâu cũng gặp không khí gia đình êm ả. Trẻ con ngoan.
Wayne Karlin dành rất nhiều thời gian cho Việt Nam. Biên soạn sách, rồi biên tập bộ sách Những tiếng nói từ Việt Nam, là bộ sách của nhà xuất bản Curbstone Press dịch tác phẩm của các nhà văn Việt Nam. Năm 2006 có một sự kiện cảm động dẫn tới sự hoàn thiện cuốn Những linh hồn phiêu dạt của ông. Anh Hoàng Ngọc Đảm là một quân y sỹ người Thái Giang, Thái Bình chiến đấu ở Tây Nguyên. Một hôm anh đi công tác bị một lính Mỹ bắn chết. Người Mỹ này đã đem ba lô của anh Đảm về Mỹ. Gần ba mươi năm ở quê anh người ta nghe lời của một thầy bói nói rằng anh Đảm đi sang Mỹ từ lâu rồi. Khi Homer, người lính Mỹ gặp Wayne Karlin, ông đã giúp ông này trả lại kỷ vật cho gia đình anh Đảm. Nhiều tình tiết hay tuyệt của câu chuyện này được ông viết rất lôi cuốn trong cuốn Những linh hồn phiêu dạt. Cuốn sách 400 trang được nhà xuất bản Thông Tấn ấn hành, có thể đọc say mê từ đầu tới cuối. Văn chương đầy năng lượng, cảm xúc chân thành, ông miêu tả Tây Nguyên với những cánh rừng nguyên sinh hùng vĩ, miêu tả cánh đồng ở Thái Giang, miêu tả người dân đón linh hồn liệt sỹ... Cuốn sách thật tiêu biểu có thể hình dung ra một phần cuộc chiến ở Việt Nam. Wayne Karlin đã làm một việc thật lớn cho Việt Nam.
George Evans là nhà thơ, từng là y tá trong quân đội Mỹ đóng quân ở Cam Ranh. Có sáu người bạn học chết ở Việt Nam, sau chiến tranh ông không có ý định gặp người Việt nữa. Ông bị sốc, chán nản, hoang mang. Nhưng khi chúng tôi tới Boston gặp ông, tình cảm của ông quay ngược trở lại. Ông trở nên thân thiết, cảm xúc tràn đầy. Trường ca Đi dạo trong vườn địa đàng của ông dành cho Việt Nam, được các nhà thơ Mỹ cảm phục chia sẻ.
Còn nhiều nữa các nhà văn tôi đã gặp, những người cách này hay cách khác đã tham gia vào cuộc chiến tranh đẫm máu ở Việt Nam. Tim O’Brien, Larry Heinemann, Gloria Emerson... Rồi Ronald Ridenhour, nhà báo, người đã can đảm tố cáo với nước Mỹ với thế giới về vụ thảm sát Mỹ Lai. Chúng tôi ngồi uống trà với ông ở New Orleans. Tôi nhìn con người dễ thương có nụ cười như trẻ nhỏ tự hỏi anh ấy lấy đâu ra sự can đảm phi thường trong khi người ta cố tình giấu nhẹm vụ thảm sát Mỹ Lai ngày 16.3.1968. Anh bị rất nhiều rắc rối sau đó. Tôi còn gặp nhiều nhà văn là cựu chiến binh ở Việt Nam. Đi chơi với họ. Trò chuyện. Thăm thú nơi này nơi kia trên đất Mỹ. Họ thường có những khuôn mặt hiền hậu, bình thường như rất nhiều người Mỹ. Không còn độc ác, vô cảm, không thương xót như thuở còn mười bảy tuổi tôi ghê sợ hình dung ra người Mỹ quái dị đang bay trên đầu tôi, dội bom, không cho mặt đất kịp thở.



